Mỹ nhân tự kỷ bên mành trúc
Ta kẻ giang hồ chợt xót thân!
Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024
Vịnh Con Cún
Trần Bảo Kim Thư
Trọng nghĩa chung tình đệ nhất đa
Tai thính canh chừng quân trộm cắp
Mắt tinh nhận biết đứa gian tà
Nắng mưa chẳng ngại theo chân chủ
Sớm tối nào quên giữ cửa nhà
Son sắt trung thành càng tỏ rõ
Khi người chìu chuộng chẳng lìa xa.
9/5/2024
Vịnh Con Mèo
Trần Đức Phổ
Sư tử đồng bằng há phải chơi
Giống nòi nhà chuột gặp tiêu đời
Dáng trèo uyển chuyển như rồng lượn
Cách toạ uy nghi tựa hổ ngồi
Lắm lúc hiền lành nai lạc chợ
Nhiều khi kiên nhẫn cáo săn mồi
Điệu đà y thể hồ ly nữ
Ngọc thố mỹ miều cỡ vậy thôi!
Bát thú
8/5/2024
Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024
Mộng Hồi Champa (Kỳ 2)
2
Một đoàn thuyền buồm gồm ba chiếc thuận theo dòng nước triều lên lướt đi băng băng nơi vàm sông Trà Khúc. Trên mui chiếc du thuyền đi đầu có cắm lá cờ hiệu nền đỏ chính giữa có thêu chữ Hầu màu vàng kim. Hai bên mạn thuyền mười vệ sĩ thân hình lực lưỡng, đầu trần, mình quấn xà rông sắc chàm cầm giáo đứng nghiêm trang như những pho tượng. Chiếc thuyền thứ hai rèm buông kín mít. Từ trong khoang thuyền, tiếng đàn tiếng sáo du dương, trầm bổng vọng ra. Chiếc thứ ba nhỏ hơn hai chiếc chạy phía trước, trên boong thoáng thấy mấy cô gái quấn xà rông trắng từ đầu tới chân, chỉ chừa ra khuôn mặt, ngồi thơ thẩn hai bên mạn thuyền ngắm trời mây. Đoàn thuyền xuất phát từ thành Cổ Lũy ngược dòng sông Trà nhắm hướng tây trực chỉ.
Đấy là đoàn thuyền du ngạan của tiểu thơ Trà Mị Cơ, con gái Tín Nhân Hầu Trà Sơn, cháu gọi quốc vương Chiêm Thành bằng bác họ. Phụ thân nàng hiện đang trấn thủ thành Cổ Lũy. Ông là người tín cẩn của Chiêm vương Trà Hòa, giỏi dùng thủy chiến nên được giao trấn thủ khu vực bờ biển đông bắc nước Chăm-pa phòng ngừa thủy binh Đại Việt. Nàng Mị Cơ là cô con gái út của hầu gia. Tính nàng vốn ưa đi đây đó, nhìn ngắm phong cảnh non xanh nước biếc chứ không thích ru rú chốn phòng the. Từ nhỏ nàng đã ham luyện tập cỡi ngựa bắn cung chứ không tập tành thêu thùa, may vá. Lần này nhân sinh nhật mười sáu tuổi, nàng xin phép song thân về thành Châu Sa để viếng thăm người cô ruột. Đấy cũng là chỉ là cái cớ để có dịp đi ra ngoài. Vốn tính chìu con nên vợ chồng hầu gia cũng không cản ngăn, chỉ sai một đội thân binh mười người đi theo để bảo vệ. Đoàn du thuyền xuất phát từ sáng sớm, nếu không có gì trở ngại thì xế chiều hôm ấy sẽ đến thành Châu Sa. Lúc này, ba chiếc thuyền vừa ra khỏi Cổ Lũy đầm chừng vài dặm, Mị Cơ đã truyền lệnh cho chạy chậm lại. Nàng muốn nhân dịp này ngao du sơn thủy cho thỏa thích.
Ban lệnh xong, nàng đi lên lầu thuyền. Hai thiếu nữ hầu cận nhẹ nhàng rảo bước theo sau. Ánh nắng ban mai tràn ngập khắp nơi. Gió sớm thổi mát rượi. Từng bầy chim sơn ca từ những tấm thảm lúa xanh mướt như nhung dọc hai bên bờ sông chốc chốc vụt bay lên, cất tiếng hót líu lo, rộn ràng như vừa được tự do. Mị Cơ nhoẻn một nụ cười tươi như đóa hồng mới nở, đưa hai tay lên cao làm một động tác thể dục. Rồi buột miệng reo:
- Ôi, thật là thoải mái!
Một cô hầu gái nhanh nhảu phụ họa:
- Cảnh đẹp quá, tiểu thư nhỉ!
Mị Cơ nhún vai:
- Còn phải nói!
Cô hầu ngượng ngnịu như vừa nói sai điều gì, vội cúi mặt đứng im thin thít. Mị Cơ thấy vậy cất tiếng cười giòn tan như pha lê, phát nhẹ một chưởng lên vai cô thị nữ.
- Ngươi nói đúng mà!
Mị Cơ mình mặc chiếc áo dài bằng lụa Tô Châu màu xanh lục, điểm xuyết hoa văn phong lan trên thân áo, cổ tay áo viền kim tuyến. Tóc tết thành bím, quấn quanh đầu không trùm khăn mà chỉ cài chiếc trâm vàng chuôi có đính hồng bảo thạch và chuỗi ngọc trai ngắn. Hai tai đeo hai vòng vàng to như miệng chén. Gương mặt thanh tú. Thân hình cân đối. Ba vòng chuẩn mực. Nói chung trông nàng cũng khá xinh đẹp.
Mặt trời dần dần lên cao. Đoàn thuyền qua khỏi cánh đồng lúa. Đến đoạn này con sông bắt đầu thu hẹp bề ngang, chạy len lỏi quanh co giữa những quả đồi thấp mọc đầy cỏ tranh và những lùm bụi. Một vài nơi lại thấy có khu rừng cây thưa thớt. Ba con thuyền vẫn lướt đi nhẹ nhàng trên dòng nước trong xanh. Tiếng đàn cầm lại vang lên, thánh thót, ngân nga nỗi niềm hoài cổ.
Đến trưa, họ dừng lại nghỉ ngơi ở một cù lao nhỏ có nhiều bóng cây cổ thụ. Ăn uống xong, Mị Cơ và hai cô tỳ nữ bước xuống thuyền đi vào rừng. Họ vừa đi được một lúc, anh đội trưởng vệ binh biết được, vội vã đuổi theo. Ba cô gái men theo con suối nhỏ, thích thú hái những bông hoa dại đủ màu sắc. Mấy chú bướm vàng, bướm xanh lượn lờ bên váy áo các nàng. Cả ba cởi giày, xắn váy lội ra giữa dòng suối cạn. Dòng nước trong rách chảy qua các mỏm đá. Một vài bầy cá nhỏ tung tăng lội trước chân họ. Họ buông váy dùng hai tay để vớt. Đã không bắt được cá mà váy áo ướt mèm. Họ tạt nước vào nhau và cười vui như tiếng suối reo. Cảnh tượng chẳng khác gì bồng lai tiên cảnh mà họ chính là những nàng tiên. Đang chơi đùa vui vẻ thì bỗng dưng cuồng phong nổi lên ào ào. Cây cành kêu răng rắc. Phút chốc mây đen kéo đến mù mịt, phủ kín bầu trời. Cả bọn hớt hải chạy nhanh về thuyền. Họ chui ngay vào khoang, đóng sập cửa lại. Phía trời tây một tia chớp lóe lên sáng lòa như xé toạc cả bầu trời. Rồi một tiếng nổ đinh tai nhức óc nổi lên. Dòng sông bị chấn động mạnh như động đất, khiến toàn thân mỗi người lắc lư theo con thuyền. Nhưng lạ thay, chỉ một thời thần sau trời quang mây tạnh, không có cả một giọt mưa rớt xuống đất.
Đoàn du thuyền kéo neo, tiếp tục hành trình.
Hoàng hôn hôm ấy, ba chiếc du thuyền cập vào một hòn đảo nhỏ nằm giữa dòng sông Trà Khúc. Đảo này có tên là Hòn Ngọc. Chiều dài của nó độ chừng non năm dặm, chiều ngang chỗ rộng nhứt chừng hai dặm. Từ đây nhìn về hướng tây bắc là núi Thiên Ấn, hướng tây nam là ngọn Thiên Bút. Đấy là hai thắng cảnh nổi tiếng của vùng đất Cổ Lũy Động. Thời bấy giờ đất nước Chiêm Thành nhiều nơi còn bỏ hoang. Người ít nên hòn đảo nhỏ này không có cư dân sinh sống. Thỉnh thoảng mới có vài chiếc ghe thương hồ xuôi ngược từ thành Châu Sa về Cổ Lũy ghé vào nơi đây để nghỉ ngơi hoặc tránh cơn giông tố.
Từ trên chiếc thuyền đi đầu, tám người lính, tay cầm giáo mác bước lên bờ. Họ chia làm hai toán tả hữu riêng biệt tiến sâu vào trong đảo rồi vòng lại thành một cánh cung. Họ đứng cách quãng xa nhau tạo thành một hàng rào bảo vệ từ xa. Tiếp đến, tên đội trưởng và hai tên lính khác bước lên bờ. Một tên lính vai vác mớ cọc tròn, dài như cây sào một đầu vạt nhọn. Hắn vừa đi vừa cắm những cây cọc ấy thành ba hình tròn đồng tâm. Một tên lính khác theo sau dùng búa gỗ nện vào số cọc đó cho thêm phần vững chắc. Xong yên, tên đội trưởng ra hiệu cho một tốp thiếu nữ tay ôm những cuộn vải trắng tinh bươc lên bờ. Hết tốp này đến tốp khác họ thay phiên nhau quấn nhiều vòng vải quanh những cây cọc vừa được đóng. Họ làm việc một cách thuần thục và mau lẹ như đã quen làm từ lâu. Chỉ một loáng trên bãi cát đã hình thành một căn phòng bằng vải kín đáo, với ba lớp vách ngăn biệt lập. Phòng có thiết kế cửa ra vào hẳn hoi. Sau đó tốp thiếu nữ kia lại lên thuyền. Lúc xuống trên đầu mỗi người đều có đội một cái vò bằng sành. Họ múc nước dưới sông và đội lên đặt vào giữa căn phòng vải. Khi mọi thứ đã xong xuôi đâu đó, Mị Cơ và hai cô tỳ nữ cận thân mới bước xuống thuyền. Cả ba tiến về căn phòng tắm dã chiến mới vừa được hoàn thành. Một cô hầu bước lên trước vén bức màn cho Mị Cơ tiến vào. Rồi nàng cùng cô kia đều đứng lại phía bên ngoài canh cửa. Đúng lúc đó, tên đội trưởng vệ binh khệ nệ mang rương quần áo tiểu thư đến để bên chân hai cô hầu. Rồi hắn lùi xa vài bước đứng yên chờ lệnh gọi.
Mặt trời đã chui tọt xuống dãy núi đen sẫm ở phía tây từ lúc nào. Ngôi Sao Hôm như con mắt của kẻ tò mò nhấp nháy liên hồi trên cao. Từng con sóng nhẹ nhàng liếm vào bãi cát. Cả toán tùy tùng tập trung tinh thần cao độ, chú ý quan sát, lắng nghe từng động tĩnh xung quanh đề phòng mọi sự bất trắc có thể xảy ra. Suốt cuộc hành trình bây giờ là lúc căng thẳng nhứt. Chỉ sơ hở một chút lỡ có kẻ đột nhập làm càn thì cái đầu bọn chúng khó giữ. Chúng biết chủ nhân chúng muốn gì thì làm nấy. Không ai khuyên can nàng được. Nàng đã thích hưởng thụ lạc thú tắm tiên giữa đất trời thì bọn chúng đều phải răm rắp phục vụ dù biết rằng chuyện bất như ý có thể xảy ra.
Vầng trăng mười sáu tròn vành vạnh từ từ nhô lên đằng đông. Vầng trăng đẫy đà, căn phồng như một trái cấm đang độ chín vàng ươm. Nàng Mị Cơ trút bỏ xiêm y. Rõ ràng dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên. Nàng đứng nghiêng người, thong thả múc từng gáo nước dội lên cơ thể tràn trề nhựa sống.
Đêm thanh vắng đến tịch mịch. Bỗng từ bên trong căn phòng dã chiến vang lên tiếng kêu hãi hùng của Mị Cơ:
- Ối trời! Cái gì đây!
Tất cả bọn tùy tùng sững sờ. Hai cô nữ tỳ nghe tiếng kêu của chủ nhân cùng giật mình kinh sợ. Một cô vén màn chạy ngay vào, cất giọng run run:
- Chuyện gì vậy tiểu thư?
Tên đội trưởng cũng vội vàng xông lại chỗ cánh cửa, dường như cũng muốn tiến vào trong, nhưng bị cô nữ tỳ đứng ngoài cản lại. Hắn cất tiếng hỏi to:
- Tiểu thư có sao không?
Chỉ nghe tiếng Mị Cơ khóc rấm rức nhưng không trả lời.
oOo
Lại nói chuyện Trần Lai. Lúc chàng ôm cơ thể phụ thân vào lòng, người ông mềm nhũn, chỉ còn thoi thóp thở thì tâm thần chàng bấn loạn. Đầu óc tê điếng, hầu như mê man không còn ý thức được những chuyện đang xảy ra xung quanh. Bởi vậy khi tên đội viên đội cải cách ruộng đất xóc lưỡi lê đâm chàng, chàng chẳng có phản ứng gì. May mà lá bùa hộ mạng đã kịp thời hiển linh phép mầu cứu chàng thoát chết. Đến lúc tỉnh táo lại, chàng nhận ra mình đang ôm chặt lấy xác phụ thân giữa một vùng ánh sáng lạ chói mắt. Rồi bỗng nhiên cả người chàng và cái xác người cha bay vút lên như pháo thăng thiên. Khi ấy chàng chẳng biết làm gì hơn là nhắm nghiền đôi mắt lại và hai tay ghì chặt cha mình. Chàng nghe tiếng gió rít vù vù bên tai. Độ chừng một canh giờ sau, Trần Lai có cảm giác như bị rơi xuống một bãi cát. Lúc bọn người Mị Cơ nghe tiếng sấm động dữ dội và luồng bạch quang lóe lên trên bầu trời là lúc Trần Lai đang xuyên thời gian, quay ngược về sáu trăm năm trước, đến đất nước Chiêm Thành.
Chàng mở bừng mắt ra nhìn quanh khi tiếng gió rít đã ngừng hẳn. Nơi chàng rơi xuống là một bãi cát trắng bên bờ một dòng sông. Chàng ngạc nhiên vô cùng, chẳng biết làm sao mà mình có thể bay bổng lên như vậy để rồi rơi xuống nơi này. Trần lai đứng dậy đi vòng quanh xem xét khắp nơi. Chẳng có một ai để mà hỏi thăm đây là đâu, cũng không thấy một căn nhà nào. Chàng như một kẻ đang lạc vào cõi mộng du.
Quay trở lại bên xác người cha đang nằm đó. Lòng chàng đau đớn vô biên. Gạt những giọt lệ trên má, chàng đưa tay vuốt mắt người cha thân yêu lần cuối. Chẳng có gì để đào huyệt chàng dùng hai bàn tay không đào một hố nông chôn cất người khuất núi. Nước mắt chàng lại tuôn như mưa vì nghĩ đến cha cả đời sống trong nhung gấm mà nay chết đi không có được một bộ đồ sạch sẽ, lành lặn che thân.
Lúc chôn cất cha vừa xong, bất chợt Trần Lai nhìn thấy một đoàn thuyền từ dưới hạ lưu đang tiến về bãi cát chỗ chàng đang ngồi. Chàng nhìn lại thân mình bất giác kinh hoàng vì trên người chỉ có mặc độc một chiếc quần đùi. Chàng nhớ lại lúc đang tắm nghe gia nhân gọi chàng cầm lấy cái áo thun chạy đến bên cha. Nhưng khi ôm ông, cái áo duy nhất đó chàng đã vất lên bãi cỏ. Nay gặp người lạ với cơ thể trần như nhộng thế này làm sao được. Bãi cát trống hoang, chẳng có nơi nào để ẩn nấp. Trong lúc cấp bách, một tia sáng bỗng lóe lên trong óc chàng. Chàng nhớ lại chuyện công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Thế là chàng liền bắt chước người xưa vùi mình xuống cát, nằm im. Chẳng ngờ cũng giống như chuyện xưa, nàng MỊ Cơ lúc dội nước tắm cũng dội đúng lên người chàng. Dĩ nhiên là chàng bị lộ nguyên hình tích. Bởi vậy nàng mới hét lên khủng khiếp như thế.
(còn tiếp)
Mộng Hồi Champa (Kỳ 1)
Truyện ngắn
1
Trần Lai là công tử duy nhất của đại điền chủ Trần Hách, người làng Tân Phong, tổng Mộ Đức, phủ Tư Nghĩa. Chàng là đứa con cầu tự của gia đình. Nghe đâu hồi đó ông bà Hách đã đi khắp tất cả chùa chiền trong phủ để khấn vái, cầu xin, và bố thí không biết bao nhiêu là của cải mới sinh hạ được chàng. Năm Trần Lai lên bốn tuổi, một hôm đang chơi với lũ trẻ ở đầu xóm thì tình cờ có một vị đạo sĩ đi ngang qua làng. Trong lúc dừng chân nghỉ mệt dưới gốc cây đa, vị đạo sĩ để ý đến một thằng bé đang chơi đùa với bạn. Thân hình nó bụ bẫm, trắng trẻo, khác xa với mấy đứa kia. Cái đầu to, sau ót có “hòn đá” gồ lên. Đôi mắt phượng long lanh. Hai dái tai hình giọt nước nhuận hồng, tươi sáng. Vị đạo sĩ nọ gật gù, vuốt chòm râu bạc như cước, tiến lại gằn đứa bé, cất tiếng hỏi:
- Cháu tên là gì?
Cậu nhỏ đang nhảy lò cò cùng mấy đứa bạn, đột nhiên thấy có người lạ đến gần hỏi danh tánh mình, liền ngừng chơi, trố mắt nhìn. Lúc đó, một cô gái khoảng mười ba, mười bốn tuổi nãy giờ ngồi dựa lưng vào gốc đa, liền bước ra thưa.
- Dạ thưa, cậu chủ của cháu tên là Lai ạ! – Thì ra cô gái là đầy tớ ở giữ em nhà địa chủ Hách.
- Nhà cậu ấy có ở gần đây không?
- Dạ, ông đi tới ngã ba trước mặt, rẽ trái, tòa nhà thứ hai bên phải đó ạ!
Vị đạo sĩ theo lời cô gái trẻ tìm đến nhà Trần Lai. Trước mặt ông là hai cánh cổng gỗ gụ, to và nặng nhưng coi bộ đã cũ kỹ. Ông đẩy cổng bước vào. Một gia nhân từ gian nhà bên hông chạy băng qua chiếc sân lát gạch chận vị đạo sĩ lại.
- Xin hỏi ông tìm ai?
Vị đạo sĩ dừng bước, hất ngọn phất trần ra sau vai, cười nói:
- Bần đạo ngao du qua vùng này, nhìn thấy tòa trang viện có nhiều vượng khí bốc lên nên muốn ghé vào đàm đạo cùng với chủ nhân đôi điều về phong thủy.
Bấy giờ tên gia nhân mới nhìn kỹ người lạ. Ông ta mình cao bảy thước, bận bộ áo dài màu thiên thanh. Râu tóc trắng xóa, vẻ mặt uy nghi. Tay cầm phất trần cán màu lục. Dáng vẻ rất tiên phong đạo cốt. Tên gia nhân lễ phép thưa:
- Dạ, phiền ngài đứng chờ nơi cổng mái hiên này một lát, để tôi đi bẩm với ông chủ. – Nói xong không đợi cho vị khách đáp lời, hắn tất tả đi vào ngôi nhà phía bên trái. Chừng mười phút sau, tên gia đinh trở ra, hắn chấp hai tay, cúi khom người thưa:
- Bẩm ngài, ông chủ tôi có lời mời quý khách quá bộ vào tệ xá! – Nói rồi hắn quay lưng đi trước dẫn đường. Đạo sĩ thong thả bước theo sau. Đến trước cửa một gian nhà rộng, tên gia nhân bước sang bên, khoanh tay trước bụng, cúi đầu, hướng vào phòng thông báo:
- Bẩm ông, có khách đến thăm ạ!
Một người đàn ông trạc chừng măm mươi tuổi, dáng vẻ quắc thước, đầu chít khăn đen, mình bận áo the in hình chữ phúc, chân mang guốc mộc, bước ra chào khách. Sau những lời khách sáo làm quen, chủ khách dắt nhau đến ngồi trên bộ trường kỷ bằng gỗ mun, khảm xà cừ, chạm trổ lá và hoa cúc. Bấy giờ, một tên gia đinh khác bưng trà nước lên mời khách. Sau một hồi chủ khách đàm đạo có vẻ rất tâm đầu ý hợp, uống cạn thêm tuần trà, vị đạo sĩ thấy rằng cần đi thẳng vào vấn đề, nói rõ ý định của mình cho gia chủ biết.
- Thưa ông, bần đạo tệ danh là Linh Cơ Tử, hiện nay đang tu học pháp môn tại núi Xương Rồng, phía tây phủ Tư Nghĩa. Bữa nay, tình cờ có việc đi ngang qua làng Tân Phong này. Thật may mắn lại được gặp quý công tử ngoài đầu làng. Theo sự hiểu biết của bần đạo công tử là người khí biểu phương phi, cốt cách hơn người. Mới gặp bần đạo đã đem lòng yêu mến. Nếu như ông bà nhà không ngại có thể cho bần đạo biết ngày sinh tháng đẻ của công tử để xủ một quẻ xem đường tương lai, vận số hanh thông của công tử.
Chủ nhà trầm ngâm một lát suy nghĩ. Ông nhớ lại, ngày Trần Lai tròn thôi nôi, ông có nhờ một người thông thạo dịch học, lấy cho con ông một lá số tử vi. Theo đó thì con ông sẽ mắc đại nạn năm mười chín tuổi. Nghe xong ông bán tín bán nghi. Lần này được gặp vị đạo sĩ xem chừng thông thạo dịch số, thấu đáo huyền cơ ông cũng muốn thử xem một quẻ cho thằng con trứng mỏng của mình. Ông kêu gia đinh đem đến một tờ giấy đỏ và bút nghiên, rồi tự tay viết tám chữ đưa cho vị đạo sĩ.
Vị đạo sĩ căn cứ theo sinh thần bát tự tính toán hồi lâu rồi trầm ngâm nói với gia chủ.
- Căn cứ theo những gì bần đạo đã học được thì mạng của cậu bé này có thể sẽ gặp hung hiểm sau lúc mười tám tuổi. Tuy vậy, gặp dữ hóa lành. Và cậu ta rồi sẽ được trải nghiệm qua một cuộc sống mới lạ khác. Nhưng nếu như muốn tránh khổ nạn kia thì cũng có cách. Đó là bước vào con đường tu hành ngay từ hồi thơ dại. Bần đạo tuy bất tài nhưng cũng xin mạn phép nhận cậu ấy làm đồ đệ, dùng hết sở học bình sinh để truyền đạt cho công tử.
Nghe đến đây, chủ nhà giật mình kinh hãi. Con trai ông, đứa con duy nhất của dòng họ ông chẳng lẽ phải xuất gia để tránh tai kiếp? Nếu thế thì dòng họ Trần của ông sẽ tuyệt tự? Nhưng nếu không cho nó đi tu nó sẽ phải gặp tai kiếp? Ông phân vân. Nhưng nghĩ lại dù sao đấy cũng là lời của những thuật sĩ giang hồ, không thể hpàn toàn tin tưởng được. Nghĩ thế cuối cùng ông đứng dậy, xá dài vị đạo sĩ.
- Dạ, chúng tôi rất hân hạnh được quý ngài thương yêu cháu nó. Nhưng gia đình chúng tôi đơn chiếc nhiều đời, nay có được mỗi mụn con hy vọng mai sau được nhờ cậy lúc xế chiều, và giao phó cho nó việc thừa tự hương hỏa nên thứ tội chúng tôi không thể giúp gì được cho ngài.
Biết là không thể thuyết phục được chủ nhà, vị đạo sĩ lấy từ trong cái túi mang theo bên người ra một lá bùa bằng vải màu vàng, có bện sợi dây đeo tơ tằm nhuộm đỏ thắm đưa cho chủ nhà. Ông ta thở dài, nói:
- Thật đáng tiếc. Bần đạo rất có duyên với công tử. Nhưng chưa đủ công đức để thành thầy trò. Vậy bần đạo có vật này tặng cho công tử. Nhớ bảo công tử luôn luôn mang theo trong người, gặp tai họa sẽ hóa lành.
Nói xong, đạo sĩ từ biệt đi ra cửa nhanh như một làn khói. Thoáng chốc chẳng ai còn nhìn thấy ông đâu. Chủ nhà bâng khuâng đưa lá bùa mà đạo sĩ vừa tặng lên xem thì thấy đó là một túi vải hình chữ nhật, bề rộng chừng hai phân rưỡi, bề dài gấp đôi. Hai mặt lá bùa đều có thêu hình bát quái bằng chỉ màu đỏ. Từ trong lá bùa một mùi hương như hoa lan thoang thoảng bay ra, khiến tâm thần ông Hách dần dần thư thái trở lại.
Ông Hách chậm rãi bước sang gian nhà giữa, nơi đặt bàn thờ tổ tiên. Ông sửa lại áo xống. Lấy ba cây nhang đốt lên, rồi quỳ xuống khấn lầm thầm trong miệng. Sau khi vái đủ ba vái, mới đứng dậy cắm nhang lên cái lư hương bằng đồng. Trên cái tủ cao chạm trổ thật tinh vi có hai hàng bài vị. Ông Hách không những phụng thờ phía cha ông, mà cả bên mẹ nữa. Trang viên ông ở hiện nay, xưa kia chính là của ông bà ngoại ông.
Cha Trần Hách tên Trần Tiến, người Quảng Nam. Ngày còn trẻ là một thanh niên thích phiêu bạt giang hồ. Tuy thông thạo Nho học, văn hay chữ tốt nhưng gặp thời buổi nhiễu nhương nên Trần Tiến không ham hố theo đường công danh. Nghe vua Hàm Nghi xuống Chiếu cần vương ông liền gia nhập vào một nhóm nghĩa quân địa phương vùng rừng núi Tiên Phước. Sau khi phong trào bị đánh dẹp, Tiến bỏ quê lẫn trốn vào nam. Sau đó một thời gian nhận thấy tình hình yên ổn ông quay về phủ Tư Nghĩa mở trường dạy học. Chẳng bao lâu tiếng tăm thầy đồ Tiến trẻ măng, đẹp trai, hay chữ nổi danh khắp vùng. Nhiều nhà phú hào có con gái đến tuổi cập kê muốn kết thân với thầy. Nhưng rốt ráo chỉ có mỗi cô con gái rượu Phan viên ngoại là lọt vào mắt xanh của chàng. Sau lễ thành hôn, ông bà Phan bèn giao sản nghiệp gia đình cho con gái và chàng rể cai quản để về vui thú điền viên. Nhờ chí thú làm ăn nên càng ngày đôi vợ chồng trẻ càng thêm giàu có. Đến đời Trần Hách, vì có tính ham mê các thú ăn chơi, cờ bạc nên sản nghiệp của gia tộc đã vơi đi phần lớn. Tuy vậy, họ Trần vẫn còn là một phú hộ giàu nức đố, đổ vách trong làng.
Ngay tối hôm đó ông Hách bảo bà vợ lấy lá bùa đạo sĩ đã cho đeo vào cổ con trai. Bà vâng lời chồng làm ngay, lúc đeo không quên dặn con:
- Đây là bùa hộ mạng. Con nhớ đừng bao giờ cởi ra.
Thằng bé tròn xoe mắt hỏi:
- Hộ mạng là sao hở mẹ?
Bà Hách ôn tồn giải thích:
- Hộ mạng có nghĩa là che chở cho con được vui chơi mỗi ngày.
- Vậy thì con không cần đâu. Con có cha mẹ hộ mạng rồi còn gì.
Bà Hách cốc khẽ vào đầu con, mắng yêu:
- Rõ khờ!
Hai năm sau bà Hách bị bệnh nặng qua đời. Ông Hách không tục huyền mà ở vậy nuôi con. Để bù đắp lại sự thiếu thốn tình thương mẫu tử, ông Hách không nuông chìu thằng bé mà trái lại tìm nhiều danh sư cả văn lẫn võ về dạy cho con.
Tháng ngày thấm thoát trôi, mười hai năm sau Trần Lai đã trở thành một thanh niên cao lớn văn võ song toàn. Một buổi chiều mùa hạ, chàng đang tắm ngoài sông cùng mấy đứa bạn thân thì một anh gia đinh hớt hải chạy ra gọi:
- Cậu chủ! Cậu chủ! Về mau, ông chủ bị bắt rồi!
Đang lúc đùa giỡn hăng say, Trần Lai không nghe được tên gia đinh nói gì. Tên đầy tớ thấy vậy phải đưa hai bàn tay lên miệng làm loa gọi to lần thứ ba, chàng mới hối hả bơi vào bờ. Chàng vừa hỏi rối rít vừa vơ vội cái áo đang treo trên cành cây.
- Bây giờ ông ở đâu?... Mà ai bắt?... Tại sao bắt?...
Tên gia đinh vừa thở, vừa trả lời từng câu hỏi của chàng.
- Dạ… đang ở ngoài đình… nghe nói đội cải cách ruộng đất bắt… Họ bảo ông là địa chủ ác lắm!
Cả hai người lật đật chạy đi không nói gì với nhau nữa. Khi đến bãi đất trống gần đình họ nhìn thấy đám đông lố nhố ở đấy. Dân chúng đứng vòng trong vòng ngoài. Trần Lai nghe có tiếng nhiều người hò hét:
- Đánh chết chúng đi, đồ địa chủ ác ôn.
- Đánh chết bọn bóc lột, hút máu nông dân.
- Đồ địa chủ gian manh, phản động!
Trần Lai chen đám đông vào sát vòng trong cùng. Ông Hách và vài người nữa bị trói gô cánh khuỷu nằm sóng soài trên đất. Mấy tên thanh niên đầu đội nón cối, tay cột băng đỏ cầm gậy tầm vông vụt liên tiếp vào những người nằm đó. Nhìn thấy cả người ông Hách bê bết máu, đầu ngoẹo sang một bên, Trần Lai liền xông vào, ôm chầm lấy cha. Ngay lúc đó, một báng súng giơ lên phang vào đầu ông Hách liền bị chàng đưa tay gạt phắc qua một bên. Tên kia tức tối quát lên:
- A, mày muốn chết! – Hắn trở đầu súng có gắn lưỡi lê xông tới đâm vào ngực chàng.
Đám đông nín thở, theo dõi diễn biến, ai cũng đinh ninh phen này Trần Lai vong mạng. Có kẻ không muốn nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng đó nên nhắm nghiền mắt lại. Khi mũi lê nhọn hoắc sắp chạm vào người Trần Lai thì đột nhiên nó dừng ngay lại. Từ chỗ lá bùa chàng đeo, một vùng sáng lòa hình bát quái bỗng nhiên xuất hiện. Trong tích tắc, mọi vật trên đời như bị đông cứng như băng tảng. Không một ai nhúc nhích được. Vùng sáng kia xẹt một đường như sao băng lên bầu trời, và sau đó tan biến đâu mất. Khi mọi người định thần lại, nhìn kỹ xung quanh thì không còn thấy cha con Trần Lai đâu nữa.
(còn tiếp)
Uổng Công Lao
Tú Điếc
Thiên triều cho gọi tưởng ngồi cao
Thất thế đành cam ghế bổ nhào
Cũng bởi đồng liêu giành chức vị
Do là bè đảng dụng gươm đao
Tiếc thay hoa nở chờ khoe sắc
Hận nỗi rừng che chẳng thấy sao
Đom đóm đã dành riêng số phận
Lập loè phút chốc uổng công lao!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






