Thứ Ba, 9 tháng 8, 2022

Mai Sau

Tác giả: Trần Đức Phổ

Anh về qua ngõ cũ
Tìm lại dấu tích xưa
Vầng trăng thề ngày đó
Bây giờ rụng phương nao?

Năm năm dài xa cách
Năm năm em lệ trào
Trái tình yêu chân chất
Chín mọng mà chưa trao

Vườn nhà em vắng vẻ
Không lời oanh hót chào
Bé nhà ai gọi mẹ
Mà tim anh nhói đau

Bốn mươi năm rồi đó
Biết bao nhiêu ba đào?
Một vòng tay còn nhớ
Chẳng hỏi lòng tại sao?

Cầu duyên chia lối mộng
Hai cuộc đời hư hao
Lạy trời cho tái ngộ,
Trong luân hồi mai sau!

9/8/2022 
 
 


Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

Bến Bờ Tự Do

 

Quãng đời sau lưng. Phần ba:Thuyền Nhân

 

BẾN BỜ TỰ DO

 

Chẳng biết danh từ Thuyền nhân (boat people) do ai đặt ra? Nhưng thập niên 1980s của thế kỷ 20, hai từ này đã làm cho cả thế giới sững sốt. Làn sóng vượt biển của những người dân Việt Nam trong những năm đó rất rầm rộ, càng về sau càng tăng. Các quan chức chính quyền cộng sản Việt nam ngoài miệng thì oang oang cấm cản nhưng trong bóng tối đã âm thầm bán bãi, bán thuyền cho những ai chung chi hậu hĩnh. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi. Hàng trăm ngàn đã làm mồi cho hải tặc hoặc cho cá mập biển khơi. Đó là chưa kể cả hàng chục ngàn người phải bị tù gông xiềng xích. Nhiều cuốn sách, nhiều bài báo đã thuật lại cảnh đoạn trường bi ai của thuyền nhân Việt Nam. Với sự hiểu biết ít ỏi của mình, tôi cũng đã từng chứng kiến hoàn cảnh thê lương của nhiều người vượt biển bị mất tất cả người thân khi đến được bến bờ tự do. Ví như có một anh đi trên một chiếc tàu tổng cộng 269 người, bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, bắn giết rồi quăng xác xuống biển. May mà anh nhảy xuống biển kịp lúc và đu vào một tấm ván, trôi nổi trên mặt biển ba bốn ngày rồi được tàu chở hàng vớt. Hoặc một nhóm bảy tám cô gái bị hải tặc làm nhục lên tới đảo phải nhập viện. Tuy vượt biển nguy hiểm là thế, nhiều người vẫn chấp nhận trả giá đắt để ra đi. Có người phải tán gia bại sản, tù tội năm bảy lần mới vượt thoát.

Cuộc viến hành của tôi may mắn hơn rất nhiều người. Hôm đó, ngồi trên boong đến gần tối thì tôi cũng phải chui xuống hầm để tàu qua trạm biên phòng. Tôi đu hai tay trên miệng hầm, và thả người rơi xuống sàn. Trong hầm tối om om, nóng hâm hấp. Vài chục đầu người lố nhố. Mùi mồ hôi, mùi hời thở trong một căn hầm kín bưng càng làm cho không khí ngột ngạt, khó thở. Cả hầm hoàn toàn im lặng.

Đến nửa đêm, tàu dừng lại. Có tiếng ai đó đối đáp với anh rể tôi. Lát sau, tiếng nhiều gót giày bước lộp cộp trên sàn tàu. Cả hầm tàu nín thở, lắng tai nghe động tĩnh trên boong. Tính đến chuyên này tàu anh rể tôi đã chở khách vượt biển khá nhiều lần. Mọi sự chung chi đều rất hào phóng nên không hề gặp sự cố, kiểm soát gay gắt nào.  Các cán bộ trạm biên phòng cửa biển chỉ làm cho có hình thức và để kiếm thêm tuýp thuốc lá ba số 555.

Mười lăm phút sau, mọi việc trở về trạng thái yên tĩnh như trước, con tàu tiếp tục cuộc hành trình ra khơi. Chúng tôi ở dưới hầm, chẳng biết đã qua bao nhiêu ngày đêm. Một buổi sáng nắp hầm được mở ra và người thủy thủ thông báo tàu đã ra đến hải phận quốc tế. Sóng êm biển lặng. Mọi người được cho lên boong nhưng không được tự do đi lại nên nằm ngồi la liệt. Nhóm người đi vượt biên gồm cả thảy 23 người. Có một số phụ nữ, và hai trẻ em trên mười tuổi. Cơm nước dọn ra tinh tươm, nhưng tôi không ăn được vì say sóng. Trái lại, hai anh thanh niên cùng đi với tôi là dân Sài Gòn, lần đầu tiên đi tàu, lại ăn ngon lành.

Để tránh gặp bọn hải tặc Mã Lai, anh tôi cái la bàn cho tàu chạy 180 độ về hướng đông, sau khi vào vùng biển quốc tế mới quay quắc 90 độ về hướng nam. Do hải trình vòng vèo như thế nên phải mất gần cả tuần lễ, con tàu mới tiếp cận một hòn đảo của Indonesia.

Một buổi trưa trời yên gió lặng, mặt nước phẳng phiu như mặt hồ. Tàu đang thả neo nghỉ ngơi. Tôi bỗng dưng nổi hứng muốn tăm biển. Anh rể tôi lấy một chiếc dây thừng buộc vào một cái trụ phía sau lái, đầu dây kia thả xuống nước. Tôi đu theo sợi gây buông mình vào trong lòng đại dương mênh mông, mất lạnh mà bơi lội vùng vẫy. Mặc dù tôi không dám bơi xa con tàu vì sợ cá mập và dòng thủy lưu nhưng anh rể tôi vẫn ngồi trên be tàu canh chừng.

Chuyến hải hành này ấn tương nhất đối với tôi là được ngắm đàn cá ông he (cá heo) đông cả chục con thi nhau chạy đua trước mũi tàu một buổi rạng đông. Những chú cá heo thân mình tròn trịa, bóng lưỡng, háo thắng luôn luôn phóng mình vượt lên trước. Tàu chạy nhanh, chúng chạy nhanh; tàu chạy chậm, chúng chạy chậm. Những chiếc mõm dài rít lên những tiếng kêu kỳ quái. Cuối cùng thì đàn cá bỏ xa tàu chúng tôi.

Nửa đêm ngày thứ bảy, con tàu tiếp cận một hòn đảo nhỏ. Tài công cài số đứng, vẫn để máy nổ. Hai cái thúng chai được thả xuống, đưa hành khách vào đảo rồi trở ra. Tôi cùng mấy người khác xuống chiếc thúng sau chót. Trước khi đi anh rể tôi bảo còn bao nhiêu tiền đưa hết cho ảnh. Anh cởi ba chiếc nhẫn trên tay đưa cho tôi, dặn để phòng thân. Tôi bịn rịn chào anh, rồi trèo ngay xuống thúng.

Chiếc thúng của tôi cập vào ghềnh đá của đảo. Anh thủy thủ liền quay thúng trở lại. Chúng tôi vội vã leo lên những hòn đá to đen đúa,. Tôi bám theo mọi người, tiến sâu vào hòn đảo lạ. Đứng trên một mỏm đá nhìn về chỗ con tàu lúc này, một màn đên dày đặc bao quanh, chẳng thấy gì  cả.

Một người bật cái máy lửa ga, dưới ánh sáng chập chờn leo lắt, cả đoàn lần mò tìm đến một cửa hang động. Tất cả không ai bảo ai lặng lẽ đi vào trong ngồi đợi trời sáng.

Trời sáng. Có mấy người vừa đàn ông vừa đàn bà ra đứng ở một mỏm đá cao, giơ tay không hoặc cầm một chiếc áo trắng vẫy vẫy những chiếc xuồng của ngư dân trên biển. Khoảng chừng nửa giờ sau một chiếc cano chở một toán lính tiến về phía chúng tôi. Khi còn cách bờ đá chừng hai mươi mét, chiếc cano dừng lại. Trước mũi thuyền cắm lá cờ nửa trắng nửa đỏ. Bên cạnh một anh lính cao to, có bộ râu quay nón, nước da đen nhẻm đứng kê chân lên be thuyền, hướng về chúng tôi, nói xì xồ.

Mọi người nổi lên tiếng bàn tán. Ai đó nói to:

- Có ai biết anh ta nói gì không?

- Tôi! – Một người đàn ông đeo kiếng trắng giơ cao tay.

- Anh ra nói chuyện với hắn đi!

Người đàn ông đeo kiếng nhảy lên một hòn đá và trăm xí lô xí là một tràng dài. Bên kia anh lính quay nón cũng trăm một tràng. Mọi người hỏi nó nói gì vậy?

Người kia ú ớ không nói rõ. Thấy vậy, một chị ăn mặc lòe loẹt, môi tô son, mắt vẽ chì xanh đứng ra nói:

- Hắn bảo anh ấy nói gì hán chẳng hiểu!

- Vậy... chị nói đi! – Mọi người lao nhao.

Chị kia với người lính trên thuyền nói chuyện một hồi, rồi  chiếc cano chạy đi. Người đàn bà phiên dịch lại:

- Ông ta nói, ổng tên là Jasma, trung úy đội trưởng đội cảnh sát biển của quốc gia Indonesia.  Tôi nói với ổng chúng tôi là người Việt Nam tị nạn cộng sản. Ông ta bảo cứ ở yên đấy, đợi một lát sẽ có thuyền đến đón về chỗ tạm dung.

 


 

 

Mọi người nghe nói thế hớn hở ra mặt. Tôi ngước nhìn chị kia chợt nhận ra đã gặp chị vài lần trên tàu lúc còn ở cảng Chánh Hưng. Khi đó chị hay cặp xà nẹo với anh Năm Tấn trong cabin buồng lái. Tôi cứ ngỡ chị là vợ bé ảnh. Những người đàn ông quê tôi vào đi biển ở miền trong cả năm mới về nhà một lần nên thường có “phòng nhì” trong Nam. Các bà vợ ở nhà dẫu có biết cũng không làm gì được, phần vì xa xôi, phàn vì cách nghĩ rất phong kiến, cổ hủ rằng đàn ông đi làm ăn xa cần có người chăm sóc. 
 
Tôi đến gần, chào chị. Chị cũng nhận ra tôi, nháy mắt cười:
- Lúc ờ cảng chị đã biết chú không phải là thủy thủ.
- Em thì cứ ngỡ chị là “bà hai” của anh Tấn.
Chị cười ha hả:
- Chú khéo nghĩ tầm bậy! Chỉ là bạn bè thôi!
- Sao chị biết nói thứ tiếng ngoại quốc đó?
- Ý chú là tiếng Anh đấy hả?
- Dạ!
- Trước năm 1975 chị làm ở sở Mỹ mà. Thằng cha In-đô nói tiếng anh khó nghe bỏ mẹ!
- Chị đi một mình à?
- Ừ, còn chú?
- Em cũng vậy!
 
Hơn một tiếng đồng hò sau, chiếc ca-nô chở vị sĩ quam cảnh sát kia trở lại, và dẫn theo một chiếc thuyền khác. Anh Trung úy nói một tràng tiếng Anh. Chị kia nghe xong quay lại bảo chúng tôi, họ cho phép lên thuyền. Mọi người hối hả trèo qua ghềnh đá, lội xuống nước, và leo lên chiếc thuyền đang cập sát bờ.
 
Con thuyền chạy vòng quanh hòn đảo một quãng rồi cập vào cầu tau. Chúng tôi được dẫn đến một căn nhà dài, trông giống như lớp học, nhưng không có bàn ghế. Buổi trưa hôm đó mọi người sắp hàng nhận phần cơm hộp cấp phát từ một phòng lân cận. Hai giờ chiều, Trung úy Jasma gọi mọi người lên lên văn phòng ông ta để kiểm tra hành lý. Lần lượt, mỗi cá nhân vào phòng móc hết tất cả vật dụng, giấy tờ trong túi và xách tay ra, đồng thời cởi bỏ quần áo, chỉ mặc độc đồ lót trên người. Họ chỉ kiểm tra bằng mắt, hoàn toàn không đụng chạm đến cơ thể bất cứ ai. Trẻ em được miễn.
 
Hòn đảo chúng tôi “đổ bộ”vào là đảo Tarempa của Indonesia. Ở đây có người bản địa sinh sống, không có cơ quan Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc. Họ tạm thời cho thuyền nhân tạm trú vài ngày chờ tàu đến chuyển đi nơi khác.
 
Tarempa là một hòn đảo nhỏ nhưng khá phồn thịnh. Nhà cửa tuy nhỏ nhưng được dựng xây ngay hàng thẳng lối. Đường xá tráng nhựa láng mức. Trên đảo có trường tiểu học, khu thể thao, chợ, và đồn hải quân. Chúng tôi ở lại đây ba ngày, bữa trưa và bữa tối được phát cơm hộp. Buổi sáng mọi người tự túc. Tôi và hai thanh niên người Sài Gòn thường ra chợ ăn sáng và uống cà phê, sau đó dạo chợ giết thời giờ. Chợ Terempa là một gian nhà lồng lớn, rộng rãi và sạch sẽ. Cũng giống như chợ Việt Nam chính giữa là lối đi, hai bên là những sạp hàng hóa. Nơi đây có bán nhiều loại sản phẩm, rau trái... Vải vóc, áo quần may sẵn nhiều vô kể. Đặc biệt những người dân bản địa rất thích mua vàng vòng nữ trang của người tị nạn Việt Nam. Buổi chiều chúng tôi ra khu thể thao xem các em gái đảo mặc mini jupe chơi quần vợt. Tối, được chiếu phim Honkong cho xem miễn phí.
 
Ba ngày sau, đoàn chúng tôi lên ca-no chuyển sang đảo Kuku. Kuku là một trại chuyển tiếp, có rất đông đồng bào tị nạn. Khi chúng tôi đến, con số thuyền nhân ở nơi đây đã vượt lên trên vài ngàn người. Các barracks không còn chỗ trống. Nhóm người chúng tôi phải dựng những căn lều bạt tạm thời để ở. Chiều hôm sau, nhân viên Văn phòng Cao Ủy tị nạn cho nhân viên xuống kê khai hồ sơ lý lịch từng người. Đối với rất nhiều thuyền nhân tị nạn Việt Nam Kuku là một địa danh khó quên. Bởi lẽ, đây là vùng đất tự do, an toàn sau những ngày dài lênh đênh trên biển với muôn vàn hiểm nguy. Nơi mà họ đã tìm thấy được một niềm hy vọng. Nó cũng là nơi chốn đã khiến cho hàng vạn trái tim con người thấm thía nỗi buồn ly hương.
 
Bờ biển Kuku hẹp, màu cát không trắng mà có sắc vàng như cát biển Sa Huỳnh. Đêm đêm chúng tôi ngồi trên bờ biển đốt lửa ca hát để động viên nhau và cũng để vơi bớt nỗi buồn.
Đoàn chúng tôi chỉ lưu lại KuKu hai tuần lễ. Sau đó được đưa lên một chiếc phà lớn, do một con tàu kéo chạy vòng quanh các hòn đảo khác gom người di tản đưa về đảo Galang. Pulau Galang mới thật sự là vương quốc của người tị nạn.
 
Galang gồm có hai trại: Galang I và Galang II. Những người mới đến, tạm thời cư ngụ ở Galang I. Sau đó nếu được nước thứ ba chấp nhận cho định cư thì chuyển vào Galang II. Hoặc những ai ở lâu trên sáu tháng mà vẫn chưa được quốc gia nào phỏng vấn cũng phải chuyển vào Galang II. Giữa hai trại là một con đường trải nhựa phẳng phiu xuyên qua những khu rừng cây và những quả đồi. Mỗi trại đều đông nghịt người. Trại nào cũng có nhà thờ, chùa, thánh thất, trường học, bệnh xá, chợ và bưu điện. Để đi và về giữa Galang I & II làm việc, luôn có xe của Cao ủy đưa đón cho nhân viên thiện nguyện..
Thật ra còn một Galang III nữa. Đó là cách gọi của mọi người ở đây về khu nghĩa trang, nằm giữa Galang I & II, nơi để chôn cất những người xấu số qua đời trên đảo. 
 
Khi tôi đến, mỗi trại Galang đều do ban đại diện của người Việt mình quản lý. Vì thế đã tránh được rất nhiều điều bất công, ngược đãi từ cảnh sát Indo.
 
 

 
Nhóm tôi được bố trí về một barrack phía dưới chân dốc đi lên quả đồi có ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo tọa lạc. Mỗi gia đình đều được cấp phát mùng mền và chiếu. Khẩu phần lương thực thì nhận hàng tuần. Gia đình nào đông con, lớn bù nhỏ cũng dư ăn. Những kẻ độc thân như tôi dĩ nhiên sẽ không đủ để sống qua ngày. Vì thế mới lên đảo, tôi đã phải lo đi tìm việc làm thiện nguyện với hy vọng có thêm nguồn thực phẩm cải thiện bữa ăn. Cũng không giúp được bao nhiêu, vì mỗi tuần chỉ được một hộp thịt. Tuy vậy nếu nhịn ăn, đem bán lấy tiền mua rau cũng được vài bữa. Tôi không biết tiếng Anh, nên lên trường tiểu học xin dậy các em nhỏ. Tiếp kiến tôi hôm ấy là thầy hiệu trưởng, nhạc sĩ Tràn Đình Quâm. Thầy chỉ hỏi sơ lược vể tên tuổi, trình độ học vấn của tôi. Hỏi tôi đã từng dạy học chưa. Tôi thưa thật chưa bao giờ dạy ai cả. Thầy cười, hỏi:
 
- Vậy, anh dạy được môn gì?
- Dạ... môn lịch sử.
- Lớp mấy?
- Thưa thầy... lớp ba.
- Sáng mai anh đến dạy thử.
 
Tôi cảm ơn và ra về. Thế là, hôm sau tôi trở thành giáo viên tiểu học!
Mới ổn định xong chỗ ở, Phòng trật tự đã kêu lên làm việc. Khi tôi chuẩn bị đi thì gặp chú Quận, (người đàn ông đi cùng hai con, tôi thấy ở bến xe miền Tây) vừa về, nói với tôi:
- Yên tâm đi đi! Chỉ làm theo thủ tục cho có lệ.
 
Tôi cười cảm ơn chú. Trong bụng cũng cảm thấy đỡ lo.
Tôi rụt rè bước vào căn phòng có ghi tấm biển “Phòng trật tự”. Một người đàn ông ngồi sau chiếc bàn làm việc kê đối diện với của ra vào, chỉ cái ghế đẩu bảo tôi ngồi. Vừa yên vị, ông ta liên hỏi:
 
- Anh tên gì?
- Dạ... Trần Văn Thư
- Năm sinh?
- Ngày 20, tháng 9, năm 19....
- Ở Việt Nam làm gì?
- Dạ, thợ dệt.
- Thời học sinh có vào đoàn, đội gì không?
- Dạ, không! – Cái này tôi nói thật hoàn toàn. Tôi chưa bao giờ vào đội thiếu niên Tiền phong hoặc đoàn thanh niên Cộng sản. Năm học lớp 10, một bạn học cùng lớp ngỏ ý muốn mời tôi tham gia lớp cảm tình Đoàn. Tôi hỏi nó “đòn gì?” Nó nổi cáu đòi đánh tôi. Từ đó không ai bảo tôi vào đoàn đội gì nữa.
- Anh nói dối! Lúc đi học sao không vào đoàn, vào dội được?
- Vì thế nên em bị đuổi học!
- Ngày sinh của anh rất đặc biệt!
- Có gì đặc biệt ạ?
- Ngày 20 nếu bỏ đi số không thì là ngày gì?
- Dạ, Em chưa từng nghĩ đến!
Im lặng. Hình như ông ta hơi bực mình.
- Có phải tàu anh đi, anh rể anh là chủ tàu không?
- Dạ, đúng!
- Anh có phải trả tiền không?
- Có ạ?
- Bao nhiêu?
- Anh em trả, em không biết!
- Anh rể anh cho anh bao nhiêu vàng?
- Dạ, không có ạ!
- Số tàu anh đi là gì?
- Em không để ý!
 
Đến đây cuộc chất vấn kết thúc. Tôi bước ra về mà trong bụng cứ mãi nghĩ tại sao chú ấy lại chú ý đến ngày sinh của tôi? Bảo tôi bỏ số không đi? Nếu bỏ số không tức là ngày 2... tháng 9. A! Thì ra chú kia nghĩ ngày sinh của tôi là biến tấu của ngày lễ Quốc khánh nước Việt Nam cộng sản. Ôi, những người bỏ nước ra đi vì yêu chuộng tự do và quyền riêng tư của người khác lại có ý nghĩ lắc léo, kiểu chụp mũ như vậy!
 
Giấc mộng của tôi ngày mới lên đảo là được đi định cư ở Úc. Ngày còn đi học, tôi chỉ biết nước Mỹ và Canada. Nước Mỹ thì ai cũng biết rồi, kể cả đứa bé học lớp Một. Bởi vì sách báo, loa phóng thanh, bài học ở trường... bên Việt Nam luôn chửi Mỹ ra rả. Lại còn kể nhiều thứ tội ác ghê rợn của quân đội Mỹ như uống máu, ăn gan người. Riêng Canada tôi chỉ biết qua những câu chuyện cổ tích, với hình ảnh không thể quên là những cây sồi. Còm nước Úc thì chưa hề nghe đến. Chỉ biết châu Úc mà thôi! Lúc lên Galang nghe người ta bàn tán Mỹ rất khó khăn trong việc nhận người. Những ai có thân nhân đang ở Mỹ, hoặc có quan hệ với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mới được cho đi định cư Hoa Kỳ. Canada và Úc đều nhận diện nhân đạo. Nhưng Canada lạnh lắm. 
 
Lên đảo Galang chừng được một tháng, tôi bỗng nghe tin có chiếc tàu cá Phú Khánh chở người vượt biên bị bắt lại. Tôi hỏi thăm và tìm đến xem thử có gặp người quen nào không. Trong nhóm thủy thủ bị bắt, có một bác lớn tuổi, mái tóc bạc phơ. Tôi nhận ra đó là bác Trần N. một người bà con xa của tôi. Bác này gặp được tôi rất mừng. Bác nhờ tôi viết thư báo tin cho hai anh con trai đang định cư ở bên Úc. Nhân dịp đó, tôi liền đề nghị bác nhận tôi làm cháu ruột để nhờ hai anh kia bảo lãnh đi Úc luôn. Tôi nghe phong thanh rằng, chỉ cần có ai ở Úc làm sponsor là sẽ được phái đoàn Úc chấp nhận cho định cư. Bác ta vui vẻ gật đầu. Kể từ hôm ấy, mọi thư từ liên lạc với hai người con trai đều do tôi đảm nhận. Hồ sơ của tôi cũng được bổ sung thêm là có thân nhân tại Úc Và đảo Galang. Theo quy định của Cao ủy, nếu ai có thân nhân nước nào, phải xin đi nước đó. Chỉ khi nào bị nước kia từ chối mới nộp đơn xin đi nước khác. Thế là tôi tự trói chân mình với một ý nghĩ viễn vông, và với một cái gật đầu thiếu bảo chứng. Tôi nhận được lá thư từ người con bác Trần N. rằng anh ta đã làm giấy tờ bảo lãnh cho tôi. Tôi liền nộp đơn xin đi Úc.
 
Tôi đợi suốt sáu tháng trời không thấy tăm hơi gì, nhưng cũng yên chí vì phái đoàn Úc cũng chưa gọi bác Trần N. lên phỏng vấn. Những bạn bè cũng đi với tôi, dù không có thân nhân nhưng chịu khó học tiếng Anh và làm thiện nguyện đến lúc này đều được Canada nhận cả.
Trại tị nạn Galang đầu năm 1986, con số tăng vọt lên hơn mười ngàn người. Những ai ở Galang I trên sáu tháng như chúng tôi đều phải di chuyển vào Galang II, để có chỗ cho thuyền nhân mới đến. Nhóm người đi cùng tàu không còn được ở chung. Tôi bị đưa vào một phòng ở Zone A cùng những thanh niên độc thân khác.
 
Một hôm tôi nghe loa phóng thanh kêu tên bác Trần N. và tôi lên gặp phái đoàn Úc. Hai bác cháu đến văn phòng Cao ủy đợi từ sớm. Lúc ngồi chờ tôi dặn dò bác nhớ nói tôi là cháu bác. Bác gật gật, nhưng không nói gì. Hôm ấy, người được phỏng vấn khá đông nên mãi tới mười giờ sáng, nhân viên mới gọi bác Trần N. tiếp kiến. Tôi ngồi lại bên ngoài, hồi hộp chờ đợi đến lượt mình. Mười lăm phút... hai mươi phút... rồi ba mươi phút... trôi qua. Không ai đả động đến tên tôi. Tôi sốt ruột, ngong ngóng nhìn vào cánh cửa văn phòng Cao ủy. Cửa mở, bác Trần N. ung dung bước ra, gương mặt tươi rói. Tôi chạy tới. Bác cười, khoe:
 
- Nhận rồi, bác được nhận rồi!
- Sao chẳng ai gọi con? Bác có nói với phái đoàn con là cháu bác không? – Tôi hỏi dồn dập.
Gương mặt bác bỗng dưng khác lạ bác nói:
- Phái đoàn họ không tin cháu là cháu ruột của bác! – Nói xong, bác ấy bỏ đi về, không thèm gọi tôi theo. 
 
Tôi đứng sững như trời trồng. Sau khi bình tĩnh lại liền tìm gặp anh nhân viên phòng Cao hủy hỏi cho biết sự tình. Anh này nói, ông nhân viên phái đoàn có hỏi nhưng bác Trần N. bảo Trần Văn Thư không phải là cháu ổng. Phái đoàn nghĩ anh mạo nhận nên gạt hồ sơ của anh rồi.
Tôi nghe anh kia nói mà chết lặng. Tôi cứ đinh đinh bác Trần N. là người thật thà, một lòng muốn giúp đỡ tôi trong hoàn cảnh khó khăn. Thật không ngờ bác cũng chỉ là người qua cầu rút ván. Bây giờ tôi mới biết lòng người tráo trở còn nhanh hơn cái chớp mắt. Ai cũng nói “Kuku tình hờ, Galang tình xù!” Tôi cứ tưởng câu ấy chỉ áp dụng cho tình cảm gái trai, không dè cũng đúng ngay chốc với tình đời. Tôi thuật lại câu chuyện trên mục đích để nhắc nhở mình bài học không nên giở trò gian dối, mưu mô trong bất cứ điều gì, chứ không hề có ý thù oán ai.
 
Trần Đức Phổ
 

 

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2022

Tìm Đường Vượt Biên

 

TÌM ĐƯỜNG VƯỢT BIÊN
 
Tôii nghĩ, chưa có ai đi vượt biên mà làm cái việc nghịch lẽ thường, trái khoáy như tôi. Người thành phố muốn đi vượt biển hay về các miền duyên hải như Nha Trang, Vũng Tàu, Kiên Giang... để đi. Riêng tôi, từ nhỏ đến lớn sinh sống bên bờ thùy dương khi đi vượt biển lại vào Sài Gòn!
 
Chiếc xe đò chạy than vào đến Xa cảng miền Đông lúc bốn giờ chiều. Mới đầu tôi định xuống ngay Cảng cá Chánh Hưng để tìm tàu anh rể tôi. Suy đi nghĩ lại thấy trời sắp tối ngộ nhỡ tìm không gặp thì biết làm thế nào. Vậy là tôi thay đổi ý định, không xuống cảng cá nữa mà kêu xe về nhà bà chị con cô Ba tôi ở gần cầu Phạm Đình Hổ quận 6.
 
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đặt chân đến một thành phố lớn. Ngày còn bé ở Sa Huỳnh tôi đã từng nghe các chị tôi nhắc đến địa danh Sài Gòn nhiều lần. Sau năm 1975 tôi lại may mắn được đọc trong mọt cuốn sách giáo khoa cũ (không biết lớp mầy) bài học thuộc lòng viết về Sài Gòn như sau:
 
Sài Gòn
 
Sài Gòn có bến Chương Dương,
Có Dinh Độc Lập, có đường Tự Do
Có Chợ Quán, có Cầu Kho,
Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm
Có ô-tô-buýt khắp miền,
Vườn chơi có Thảo Cầm Viên, Tao Đàn
Bến Thành đã tiếng tăm vang
Chợ Cầu Ông Lãnh lại càng nên đi
Xe đò, xe máy, taxi
Bình Tây, Khánh Hội ngại gì xa xôi
Chánh Hưng, Phú Nhuận đây rồi
Thị Nghè, Tân Định nhiều nơi còn chờ
Trải bao thay đổi đến giờ
Khắp nơi đã rợp bóng cờ vinh quang
Sài Gòn - thủ phủ Việt Nam
Mai này kiến thiết mở mang còn nhiều. 
 
Bởi vậy cái tên Sài Gòn trong tôi không hề xa lạ như Hà Nội. Dù không biết Thành phố rộng lớn như thế nào nhưng tôi luôn nghĩ nơi đây là chốn phồn hoa, đô hội.
Chiếc xe xích lô đạp chở tôi qua các ngả đường. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi không nhìn thấy chiếc ô-tô hoặc taxi nào, cũng không nhìn thấy chiếc xe buýt nào. Đường xá thì rộng thênh thang những chỉ toàn là những chiếc xe đạp, xe xích lô, và bộ hành. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe Honda xuôi, ngược. Nhà cửa hai bên đường đóng cửa im ỉm. Phố xá vắng lặng, trông thật ảm đạm. Lạ thật! Thành phố Hồ Chí Minh biết mấy tự hào, hôm nay lại tiêu điều hơn thị xã Nha Trang mười năm trước.
Chiếc xe xích lô dừng tại một con hẻm. Tôi trả tiền rồi đi vào hẻm tìm nhà bà chị họ. Cầm mẩu giấy trong tay, tới đúng số nhà đã ghi, tôi kêu cửa. Đợi một lát, cánh cửa sắt kêu lên ken két, rồi một người đàn bà trạc bốn mươi tuổi, dáng người hơi béo xuất hiện, hỏi tôi:
- Cậu tìm ai?
- Dạ, đây có phải là nhà chị Dân, con cô Ba Thiện không ạ?
- Đúng rồi! Cậu là...?
- Dạ... Em là Thư, con bà Thạnh ở Quảng Ngãi.
- Ồ,... con cậu Bốn!
 
Chị bảo tôi vào nhà. Hỏi tôi ăn gì chưa, và vào đây làm gì. Tôi thật thà kể mình ở Nha Trang thất nghiệp, nên anh rể bảo vào đi biển. Chị nói:
- Em vào đi biển với thằng Sáu hả? Mỗi lần tàu về Sài Gòn, hắn đều mang cá lên biếu chị. Em cứ việc ở đây, mấy ngày cũng được.
 
Được lời như cởi tấm lòng, tôi dạ vâng rối rít. Bà chị họ này của tôi vốn mau mồm mau miệng, tính tình rất vui vẻ.
 
Sáng hôm sau, chị bảo anh chồng dẫn tôi ra đầu con hẻm ăn sáng, Ăn xong tôi gọi xích lô để xuống Cảng cá. Phải mất một lúc lâu đi dọc những con tàu đậu san sát nhau tôi mới tìm ra chiếc tàu của anh rể tôi. Thấy tôi anh hỏi:
- Em vào với ai?
- Dạ, một mình.
 
Tôi ở lại trên tàu mấy ngày. Sáng nào cũng vậy tôi đến một cái quán bên bờ sông làm tô-ly-điếu (tô phở, ly cà phê, và điếu thuốc lá) rồi về ngồi trong cabin ngắm sông nước, hoặc xem nhóm thủy thủ trên tàu binh xập xám ăn tiền. Một hôm anh rể chơi bài thắng lớn, liền dẫn tôi và vài người bạn đến nhà hàng Maxim uống la-de, và nghe nhạc sống. Đó là lần đầu tiên tôi được nếm mùi vị bia Sài Gòn.
Những ngày sống ở trên tàu cá, có một chuyện hi hữu, buồn cười đã xảy ra với tôi. Tàu neo ở bến, thủy thủ thường thức rất khuya, hoặc đi chơi phố, hoặc đánh bài bạc. Từ chín giờ đêm đến gần sáng trên sông thường xuất hiện những chiếc xuồng con con rao bán thuốc lá hoặc hột vịt lộn của các cô gái phục vụ món ăn khuya cho họ. Tiếng rao lảnh lót, “ai... vịt lộn... hông...?” tối tối lại vang lên làm xáo động cả màn đêm.
 
Lần đó anh rể tôi kêu một cô còn trẻ mang lên một rổ trứng lộn. Anh nói thì thầm gì đó với cô gái rôi mua luôn cả rổ hột vịt. Anh nháy mắt với tôi:
- Cô ấy thích cậu đấy! Dẫn vào khoang máy mà tâm tình!
Tôi chẳng biết cầu cua tai nheo thế nào, nhưng vẫn dắt cô ta chui vào khoang máy. Trong khoang chật chội, mùi dầu nhớt bốc lên làm khó chịu, cô gái bịt mũi nói:
- Em ngộp thở, ra ngoài thôi!
Hai đứa bước ra. Anh rể tôi kề tai tới hỏi nhỏ:
- Sao nhanh thế!
- Cô ta than, ở trong ấy khó thở.
 
Anh rể đưa cho tôi một cái mền, bảo dẫn tới trước mũi tàu.
Mới đầu hai đứa tôi ngồi trùm mền lại ngắm sao, và nói chuyện lông bông. Lát sau, cô ta hỏi:
- Anh có tiền không?
- Có!
- Bao nhiêu?
- 50 đồng.
Cô gái chợt nói:
- Em buồn ngủ rồi!
 
Hai đứa tôi, nằm và trùm mền kín đầu, quần áo vẫn mặc trên người. Mùi da thịt con gái có làm cho tôi rạo rực, tôi quàng tay ôm ngang người cô. Cô nàng nằm im mặt chạm vào mặt tôi. Tôi cũng lặng im, nghe hơi thở mình nóng hổi và nhịp tim đạp nhanh. Không thấy tôi động tĩnh gì cô gái hỏi:
- Anh ngủ rồi à?
- Chưa!
- Sao im lặng thế?
- Chứ làm gì bây giờ!
Tôi nói tình thiệt. Cô gái bỗng chép miệng, và tung mền ra:
- Khuya rồi! Em phải đi bán!
- Ừ!
 
Cô gái leo xuống chiếc xuồng đang cột bên hông tàu. Chiếc xuông nhẹ nhàng lướt đi trên mặt sông tối đen. Tiếng rao: “Ai... vịt lộn... hông...?” lại vang lên lanh lảnh trong màn đêm Sài Gòn.
 
 Tôi sờ vào bốn cái túi quần jean. Tờ bạc 50 đồng không cánh mà bay!
 
 


Sáng hôm sau đi ăn phở về tôi thấy dượng Hai B. ở trên tàu, trong cabin buồng lái, đang nói chuyện to nhỏ với anh rể tôi và Năm Tấn, người chung phần hùn với anh tôi. Sau đó Hai B. ra về với vẻ mặt không vui. Anh tôi và Năm Tấn còn bàn luận thêm một lát nữa. Đến trưa ăn cơm xong, anh rể bảo tôi về lại nhà chị Dân ở tạm vài ngày. Ngày mốt hãy xuống để đi biển. Chiều nay tàu đi lấy nước đá cây (dùng để ướp cá). 
 
Tôi về nhà chị Dân gặp Hồng, cũng là con gái chú tôi, em út của cô Hai B. tôi ngạc nhiên hỏi:
- Em vào đây làm gì?
- Đi theo anh! – Hồng trả lời nửa đùa nửa thật. Tôi cứ nghĩ con bé nói chơi nên không hỏi gì thêm.
 
Ở nhà chị Dân rảnh rỗi quá, không biết làm gì cho hết thì giờ, tôi rủ Hồng đi chơi, “khám phá” Sài Gòn. Hai anh em cùng là nhà quê lên tỉnh lơ ngơ như nhau nên chị Dân sai đứa con gái trạc tuổi của Hồng dẫn chúng tôi đi.
 
Mấy anh em đón hai chiếc xích lô đến khu vui chơi giải trí Hồ Kỳ Hòa. Ngày đó, công viên này còn đang trong thời kỳ kiến tạo nên không có nhiều du khách. Lèo tèo chỉ có hồ đạp vịt, đu quay... và một cửa hàng bán thức ăn, giải khát. Chúng tôi ở đấy chơi một buổi, chụp hình kỷ niệm rồi ra về. Những tấm hình chụp hôm đó tôi không hề được nhìn thấy, vì thợ ảnh bảo ba ngày sau hãy đến lấy.
Sáng hôm sau là đúng hẹn ngày mốt, tôi trở xuống Cảng cá Chánh Hưng. Không thấy tàu anh tôi đâu cả! Tôi tưởng mình nhìn không kỹ, bỏ sót nên đi đọc từng số hiệu của mỗi con tàu. Vẫn không tìm thấy! Tôi bước lên một chiếc tàu có ký hiệu PK (Phú Khánh) hỏi một anh thủy thủ:
 
- Anh có biết tàu anh Năm Tấn số hiệu PK ... đậu đâu không?
- Chạy biển hai hôm rồi!
 
Nghe câu trả lời như thế tôi hỡi ôi! Thất vọng tột cùng! Miệng tôi đắng chát! Chán nản quá, tôi chỉ biết đứng im như trời trồng hồi lâu. Lúc sau bình tĩnh lại tôi lủi thủi quay về nhà chị Dân. Định bụng hôm sau sẽ khăn gói quả mướp về lại Nha Trang.
Thấy tôi quay về, mặt mày buồn bã chị Dân hỏi:
 
- Sao buồn thế em?
- Tàu của anh Sáu chạy biển rồi!
Thấy tâm trạng tôi không vui nên chị cũng không nói gì thêm. Cuộc sống đôi khi có những biến chuyển không ai có thể lường trước được. Nhiều việc của chính ta nhưng cũng không vì thế mà do ta quyết định. 
 
Giữa lúc tôi không còn hy vọng gì nữa, bỗng nhiên anh Năm Tấn đột ngột xuất hiện tại nhà chị Dân. Gặp tôi anh chỉ nói gọn lỏn:
- Lấy đồ, rồi theo tao!
- Đi đâu?
- Đưa mày về quê!
- Mình tôi đi cũng được, đâu cần anh đưa!
- Anh Sáu mày nhờ tao. Đi ngay, đừng cãi!
 
Nghe nói anh rể tôi nhờ cậy, tôi không nói gì nữa, chào tạm biệt chị Dân, rồi xách gói quần áo theo Năm Tấn.
Amh ta dẫn tôi lên Tân Phú, tìm đến một ngôi nhà tranh nhỏ, ở nơi hoang vắng thưa thớt nhà cửa, xung quanh cỏ mọc và sình lầy. Lúc đi trên con đường nước đọng thành vũng ổ voi, ổ trâu, anh này mặt mày cau có, hầm hè với tôi:
 
- Mày đã nói với những ai tao chở khách vượt biên?
- Em có nói gì với ai đâu?
- Còn chối! Tao giết mày bây giờ!
Tôi cũng nổi cáu:
- Sao tự nhiên anh đòi giết tôi? Anh làm gì làm sao tôi biết mà nói?
- Mày có nói với ai mày dzô đây làm gì không?
- Tôi chỉ nói vào đi biển.
 
Anh ta hơi nguôi giận. Sau đó khong nói gì thêm.
Gần tối thì chúng tôi đến nơi cần đến, Năm Tấn dương như rất thân quen với chủ nhà. Anh bảo tôi ở đó đợi, không được đi đâu, rồi bỏ đi.
 
Chủ nhà là một người đàn ông khoảng ba mươi tuổi, mình trần, chỉ mặc độc nhất một chiếc quần xà lỏn. Trong nhà không thấy có ai khác. Sau khi tiễn Năm Tấn ra khỏi sân, anh ta quay vào dọn lên bộ phản gỗ kê sát vách, một chai rượu đế, hai cái ly nhỏ, và một đĩa ổi xá lị đã chẻ làm tám. Chủ nhà mời tôi nhậu. Tôi lịch sự từ chối, nói là chẳng biết uống rượu. Một mình anh ta ngồi uống tì tì, vừa uống vừa nghêu ngao hát vọng cổ, tay cầm chiếc đũa tre gõ nhịp vào chai rượu trong vắt. 
 
Tôi ở bên chầu rìa một lát cảm thấy mỏi lưng nên đứng dậy bước ra sân. Tiết trời cuối tháng bảy dương lịch oi bức, không một làn gió. Tiếng ếch nhái ễnh ương không ngừng kêu ồm ộp càng khiến cho cảnh vật thêm hoang vu. Đây là vùng ‘ven đô’ không đèn điện, cách vài thửa ruộng mới có một căn nhà chong đèn dầu leo lắc. Nghĩ lại lời của anh Năm Tấn đòi giết tôi lúc nãy, tôi giận muốn sôi gan. Không hiểu vì sao anh ta đổ oan cho tôi để lộ thông tin chở khách vượt biển, chuyện mà thực ra tôi chẳng biết tí gì.
 
Sau này gặp nhau bên Mỹ, anh rể tôi mới kể cho tôi nghe. Hôm ấy dượng Hai B. gặp anh và Năm Tấn xin cho Hồng, cô em vợ anh ta đi cùng tôi. Thì ra, cô Hai B. đoán được tôi vào Sài Gòn sẽ đi vượt biên nên phái anh chồng vào làm thuyết khách, gửi cô em quá giang! Anh rể tôi và Năm Tấn từ chối. Bởi lẽ, ai cũng xin cho thân thuộc đi “quá giang” thì lấy của đâu mà trả tiền lương cho thủy thủ. Làm chuyện bất hợp pháp, một tù hai tội chớ đâu phải chuyện chơi. Chính tôi là em của chủ tàu, anh tôi cũng phải xuất ra ba cây vàng để được đi chuyến đó. Sau khi không nhận lời Hai B. sợ sự việc lộ tẩy, anh tôi thay đổi kế hoạch, chạy tàu xuống đậu ở Sa Đéc, vờ nói là chạy biển. Năm Tấn ở lại thông báo cho số khách Sài Gòn đỉa điểm tập kết mới.
 
Đến khoảng chín mười giờ đêm, Năm Tấn trở lại, dẫn tôi đến một nhà khác ở quận Tân Bình. Anh ta gõ vào cửa năm tiếng, cánh cửa bật mở, chúng tôi bước vào. Trong nhà có một người đàn ông sồn sồn và một cô gái chừng mười bảy mười tám tuổi. Năm Tấn ngồi nói chuyện với ông già, còn cô gái bưng đèn dẫn tôi lên một căn gác xếp. Trên ấy có một cái giường rộng chừng một mét hai, chỉ có chiếu và gối nhưng không có mền. Đặt cái đèn hột vịt đã vặn nhỏ lên sàn gác rồi cô ta bước xuống. Tôi nhình quanh. Ngoài cái giường, căn gác không có vật gì khác, mái tôn thấp lè tè.
 
Lát sau, anh Năm Tấn lên, dặn tôi ở đây một đêm, sáng mai có người đến đón thì đi theo họ. Nói xong anh bỏ đi.
 

 

Bảy giờ sáng, có hai thanh niên người Sài Gòn đến tìm tôi. Họ dẫn tôi đi loanh quanh trong khu phố một hồi rồi mới gọi xích lô đến Bến xe miền Tây. Tại đây, chúng tôi gặp một nhóm người khác gồm ba cha con. Hai thanh niên đi cùng tôi và người cha trong nhóm kia nhận biết nhau. Họ trao đổi với nhau gì đó rồi tất bật lên xe. 
 
Tôi là người đi xe đò không bao giờ ngủ gật vì rất thích ngắm phong cảnh dọc đường. Miền Tây trong tâm trí tôi là mảnh đất trù phú, màu mở, với những cánh đồng lúa vàng cò bay thẳng cánh, những vườn cây ăn trái xum xuê, trĩu quả qua từng trang sách mà tôi đã đọc, hoặc qua lời ca tiếng hát trên đài phát thanh mà tôi đã từng nghe. Nhưng hôm ấy, mắt tôi cứ nhíu lại không làm sao mở ra ra được. 
 
Đêm hôm trước tôi bị mất ngủ vi suy nghĩ lung tung. Tôi nằm trằn trọc thử đoán Năm Tấn có lừa gạt tôi không? Sao tàu anh tôi chạy biển mà anh rể không cho tôi biết trước? Nếu ngày mai không có ai tới tôi sẽ đi đâu? Có nên về lại Nha trang sống những ngày không có hộ khẩu, không một mảnh giấy tùy thân để nửa đêm giật mình sợ hãi khi có người gõ cửa?
 
Đường về miền Tây phẳng phiu, không đèo dốc như miền Trung nên tôi đã ngủ một giấc rất ngon. Khi một trong hai thanh niên kêu tôi dậy, xuống xe để lê phà thì trời cũng đã đứng bóng. Chúng tôi chia ra hai tốp riêng biệt bước lên một cái phà lớn. Đứng dựa trên lan can nhìn dòng nước sông Tiền đỏ quạch phù sa, cuốn theo những đám lục bình xanh biếc có điểm những bông hoa tím khiên tôi bất chợt nhớ đến bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.
 
"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
 
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
 
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
 
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."
 
Vâng! Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;Củi một cành khô lạc mấy dòng. Nhánh củi trôi sông chính là tôi lúc này.
 
Qua khỏi phà chúng tôi ghé vào một quán cơm. Từ sáng đến giờ chưa có gì bỏ vào bụng nên tôi cảm thấy đói, liền gọi một đĩa cơm tôm, sườn nướng. Không biết vì quá đói hay cơm miền Tây ngon mà tôi ăn hết một đĩa vẫn thấy còn thèm!
Ăn xong chúng tôi tiếp tục hành trình. Không bao lâu sau, chiếc xe đò về đến thị xã Sa Đéc. Tại đây lần đầu tiên tôi được trông thấy những chiếc xe lôi, một loại xe đặt biệt của miền Tây. Khách ngồi đằng sau, gọng xe gắn vào chiếc xe đạp của người phu ngồi trước để họ kéo đi. Mới bước ra khỏi xe đò, phu xe đã ùa đến đon đả chào mời. Mỗi người trong chúng tôi thuê một chiếc để về chợ Sa Đéc.
Ngôi chợ lồng nằm bên bờ một con kênh. Chúng tôi giả dạng thành khách đi chợ mua hàng, đủng đỉnh tiến vào chợ. Giữa chợ có một lối đi, hai bên hai dãy sạp hàng bán đủ các thứ hàng hóa nông sản. Tôi rảo bước theo hai thanh niên, ba cha con nhà kia biến đâu mất. Đi được chừng một đoạn khá dài trong lồng chợ, chúng tôi rẽ vào một lối khác có bậc tam cấp bước xuống dòng kênh. Dưới kênh một thủy thủ đang ngồi trong một cái thúng chai chờ sẵn. Anh hối hả giục chúng tôi leo vào thúng và vội vã mở dây cột, chèo ra chiếc tàu đang đậu ngoài con sông Tiền. 
 
Tất cả mọi hành khách lên tàu đều phải chui ngay xuống hầm cá ở khoang trước. Riêng tôi, vì là em vợ tài công nên được cho ở trên boong. Tàu nhổ neo, xuôi theo một nhánh của dòng Tiền Giang chạy ra cửa Cổ Chiên. Tôi ngồi trên mũi thuyền, phóng tầm mắt về phía trước. Nắng chiều loang loáng trên sông. Một chiếc ghe nhỏ dài, chất đầy rau quả chạy băng băng phía trước, mặt nước sau đuôi thuyền rẽ ra như đuôi quạt. Bỗng dưng lòng tôi cũng bị rẽ đôi như mặt nước sông kia. Nửa muốn ra đi, nửa muốn quay trở về. Cái cảm xúc trước khi rời bỏ quê hương đất nước thật là khó tả. Rồi đây, phiêu bạt nơi xứ người chắc chắn chỉ có mình tôi, giống như con thuyền độc mộc đang chạy nhanh ở phía trước không biết đâu là bến bờ. Ngay lúc đó, tôi muốn làm thơ lắm nhưng không có giấy bút. Sau này hồi tưởng lại, tôi viết bài “Hành Tha Hương” bày tỏ tâm trạng của mỗi thành vuên trong một gia đình biệt xứ.
 
Hành Tha Hương 
 
Những cuộc chia ly đầy ngấn lệ
Những hồn thấp thỏm nỗi âu lo
Tâm can quặn thắt, lòng đau xé
Họ đã ra đi lúc gãy cờ!
 
Cha đứng nghiêm trang chào lần cuối
Quân kỳ vấy máu bạn hùng binh
Nghe trong gió thoảng lời trăn trối
Vì nước sá gì chuyện tử sinh!
 
Mẹ đã bao lần luôn gượng dậy
Cố nhìn vút mắt cuối trời xa
Tận cùng biển lớn mênh mông ấy
Là chốn thương yêu – một mái nhà!
 
Em bỏ trường xưa rời sách vở
Làm chim mất tổ sống quê người
Tha hương mấy kẻ là không nhớ
Áo trắng, một thời mộng thắm tươi!
 
Chiều nay đọc lại dòng di cảo
Thấm nỗi hờn đau của núi sông
Nghĩ thẹn vì miếng cơm mảnh áo
Mà ta đánh mất chí tang bồng!
 
Trần Đức Phổ

Mối Tình Đầu

 

đáng lẽ trước khi đăng phần này tôi phải đăng chương "Tháng Ngày Lận Đận" kể về những ngày tôi làm mướn, học nghề dệt ở Nha Trang cho câu chuyện liền mạch. Nhưng chương đó có nhiều chi tiết cá nhân tế nhị nên tôi không thể đăng trên Fb, chỉ để in trong sách giấy.
Vậy hôm nay mời các bạn đọc một chương diễm tình.
.
 
MỐI TÌNH ĐẦU 
 
Giữa lúc tôi vô cùng tuyệt vọng vì không có việc làm, không nơi tạm trú thì chị Sáu tôi gọi sang nhà có chuyện cần nói. (Lý do vì sao tôi không ở nhà chị, tôi đã nói rõ trong phần “Tháng Ngày Lận Đận” nên không nhắc lại ở đây.) Tôi vội đi liền ngay chiều hôm đó. Chị tôi cho tôi biết một cái tin vui mà tôi không thể nào ngờ tới.
- Anh Sáu em nhắn tin về, bảo em vào đi biển. Em muốn đi không?
- Em bị say sóng!
- Vài hôm sẽ quen thôi mà!
- Tàu anh Sáu đậu ở đâu?
- Cảng cá Chánh Hưng, Quận 8, Sài Gòn.
Được chị tôi động viên tôi nhận lời. Chị dặn tôi sáng mai sang Núi Sạn tạm biệt cô Hai B. rồi ngày mốt vào Sài Gòn. Nhớ đừng nói với ai khác. Lúc tôi thông báo sẽ vào Sài Gòn để đi biển, cô Hai B. có vẻ ngờ vực. Cô em họ này của tôi tinh ranh hơn cáo già, biết là tôi có chuyện gì đang giấu, nên cười cười, hỏi vặn.
- Anh đi biển thật à?
- Có gì mà không thật?
Vẫn giữ nụ cười như chứng tỏ mình đã biết tất cả sự tình, cô ấy nói:
- Đừng giấu tui! Tui không tin anh vào đi biển đâu! Nhưng thôi... qua tới đó nhớ đừng quên tui!
Nghe cô Hai B. nói vậy tôi cũng đâm ra ngờ ngợ. Hình như có điều gì đó không đúng khi anh rể tôi nhắn vào đi biển. Tôi là một thằng “thư sinh” nhát gió dại sóng dễ gì có cửa xuống tàu làm thủy thủ, cho dù con tàu đó anh tôi hùn vốn nửa chiếc?
 
*
Tôi nghi ngờ là anh chị đã sắp xếp cho tôi vượt biên. Nghĩ vậy tôi vội đến nhà L. bạn gái tôi để chào tạm biệt. Nàng là mối tình đầu tiên của tôi. Câu chuyện hai đứa tôi quen nhau cứ như là chuyện trong phim ngôn tình của Hàn quốc ngày nay. Bữa đó là ngày lễ 30-4, khu vực Núi Sạn lại rơi đúng vào lịch cúp điện định kỳ. Bọn thợ dệt chúng tôi rủ nhau đi lên Thành Diên Khánh vui chơi. L. không phải là thợ dệt, nhưng có cô bạn thân làm chung với bọn tôi, nên được rủ đi cùng. Cả bọn đạp xe đạp đi từ sáng sơm, chơi cho đến xế trưa. Lúc sắp ra về rủ nhau vào một quán nước để giải khát. Khi những ly nước mía ướp đá lạnh thơm phức mùi đường được đem ra đặt trên cái bàn nhỏ, tôi lấy ngón tay xoa xoa vào thành ly thủy tinh, rồi vẽ nguệch ngoạc xuống mặt bàn. L. bỗng tinh nghịch đặt ra một câu hỏi cho bọn tôi:
- Đố các bạn tại sao nước có thể “thấm” qua được thành cốc bằng thủy tinh? 
 
Cả bọn suy nghĩ hồi lâu, chẳng có ai trả lời. Tôi cũng ngồi im re, nhưng đầu óc chuyển động không ngừng, cố lục lọi mớ kiến thức vật lý đã học để vận dụng tìm ra đáp án. Thấy mấy đứa bạn trai đều im lặng không lên tiếng, tôi sợ cả bọn bị mất điểm với đám con gái nên vội vã trả lời.
- Là thế này... trong không khí có sẵn hơi nước. Thành ly thủy tinh bị đá lạnh làm giảm nhiệt độ, khiến hơi nước ngưng tụ lại và bám vào. Đúng không nhỉ?
Mấy đứa bạn tôi đều reo lên:
- Đúng! ... Đúng!
L. chỉ ngồi cười, không nói gì.
Tối hôm sau, dưới phường có đoàn cải lương về hát. Tôi và thằng em con ông chú rủ nhau đi xem. Chúng tôi đến hơi sớm, còn đang đứng trước cổng vào nhìn người đi coi hát đông như hội thì H. bạn thân của L. đến nói với tôi.
- Con L. Nó muốn gặp anh.
- Cô ấy ở đâu? Sao không đến đây?
H. nháy mắt với tôi:
- Anh khờ quá! Nó muốn gặp riêng anh!
Tôi hỏi địa điểm, và đến nơi đó. Cô nàng đang đứng chờ ở ngoài đầu đường, dưới tàn lá một cây xoài. Thấy tôi đến nàng bẽn lẽn hỏi:
- Anh đi xem hát à?
- Ừ, ... L. cũng vậy?
 
Hai đứa đứa tôi nói chuyện một hồi, rồi cả hai đổi ý không đi xem cải lương nữa mà dắt nhau đi uống cà phê. Bây giờ nghĩ lại thấy thời trai trẻ vui thật, gái trai cứ thích thì tìm đến nhau chẳng lo nghĩ, tính toán gì ráo. L. không đẹp nhưng có nước da trắng, đêm ấy nàng mặc bộ đồ màu tối, nên càng gợi cảm hơn dưới ánh đèn. Quê ngoài Bắc, gia đình nàng di cư vào Nam năm 1954, là người Công giáo chính hiệu. L. sinh ở đây nên nói tiếng Nha Trang pha giọng Bắc rất dễ thương.
 
*
Buổi trưa hôm đó tôi tìm gặp L. nói cho nàng biết tôi sẽ vào Sài Gòn để đi biển. Nàng hỏi vặn:
- Tại sao phải đi?
- Anh đang thất nghiệp. Sợi vải đang khan hiếm.
- Vài tháng sau sẽ có lại mà.
Tôi ngần ngừ một chút rồi nói:
- Có thể anh sẽ đi vượt biển!
Nghe vậy nàng tỏ ý không vui, nói ngay:
- Đừng đi! Vượt biển ở đảo cực lắm!
- Sao em biết?
- Em có hai người anh ở đảo mấy năm nay, viết thư về nói.
- Nếu anh nhất quyết phải đi, em có đi cùng anh không?
- Không!
 
Hai đứa cùng im lặng hồi lâu. Rồi chúng tôi chuyển sang nói chuyện khác. Kể từ lần đó cho đến tận bây giờ tôi không gặp lại L. nữa. Từ cái đêm đi xem hát cải lương đến hôm chúng tôi từ biệt nhau chỉ vẹn vẹn có hơn ba tháng.
Năm 1993 sau khi học xong College tôi về Việt Nam một lần. Tôi có đến nhà tìm L. nhưng không gặp. Ở cổng nhà nàng tôi thấy một người đàn ông khoảng tuổi như tôi đang bồng một cậu con trai ba tuổi. Cô H. bạn L. nói với tôi, nó chờ anh suốt năm năm trời không có tin tức gì nên mới lấy chồng. Tôi buồn buồn tiếc nuối như vừa đánh mất một cái gì rất quý giá. Ngày qua tới đảo Galang, tôi có gửi về mấy lá thư cho L. nhưng không nhận được hồi âm. Sau đó thì tôi không còn tiền để gửi thư nữa. Tôi làm mất địa chỉ của L. trước khi đến Canada nên không cách nào liên lạc được nữa.
 
Trần Đức Phổ
 
 

 

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Về Đến Đồng Bằng

 

VỀ ĐẾN ĐỒNG BẰNG
 
Vừa mệt mỏi, vừa nản chí, tôi mơ màng hình như đã ngủ một giấc dài. Trong mơ tôi đã gặp một ông già râu tóc bạc phơ đang ngồi trên một phiến đá. Ông già đang mỉm cười nhìn tôi:
- Cậu trẻ, cậu đã ngủ một giấc dài cả năm trăm năm rồi đấy!
Nghe nói thế, tôi không hề ngạc nhiên mà còn vui mừng nữa. Tôi muốn ngủ một giấc ngủ xuyên thời gian để xóa bỏ cái hiện tại không hứa hẹn điều gì tốt lành. Trong mơ tôi cũng chợt nhớ hình như lúc nhỏ có đọc ở đâu đó một câu chuyện kể rằng, có một anh kia đang gặp cảnh khốn cùng, nợ như chúa chổm. Một hôm say rượu mệt mỏi dựa lưng vào một gốc cây trong vườn ngủ mê man như chết. Khi tỉnh dậy mọi vật quanh anh đã hoàn toàn thay đổi. Khắp xóm giềng không còn ai quen biết. Thì ra anh vừa ngủ một giấc dài cả năm trăm năm.
 
Ông già nói xong, vụt biến mất. Tôi giật mình mở mắt nhìn quanh, ngơ ngác. Thằng Minh cà khịa tôi:
- Đào ngũ bị bắt mà ngủ ngon dữ!
 
Lúc này, đã hoàn toàn quay trở về thực tại, không nhìn thấy hai anh cảnh vệ kia đâu, tôi hỏi Minh:
- Họ đâu rồi?
- Đi cả rồi!
- Ô! Thật vậy sao!
 
Thằng Minh gục gặc cái đầu húi cua. Tôi thì quá vui mừng. Không thể cắt nghĩa được giấc mộng là sự thật hay sự thật là giấc mộng. Chỉ biết ràng sự việc chuyển biến thật bất ngờ.
Cho đến giờ này, tôi vẫn không hiểu được nguyên nhân vì đâu hai anh cảnh binh kia không bắt chúng tôi giải về Trung đoàn bộ. Tôi đoán già đoán non là có thể họ tin lời tôi nói dối rằng chúng tôi là công nhân Nông trường Hà Tam. Nhưng nghĩ kỹ lại, người ngồi trên chiếc xe Jeep (chắc là sĩ quan cao cấp) đã nghi ngờ, nên mới sai hai anh cảnh binh đến khống chế bọn tôi. Nhưng vì sao cuối cùng lại “tha bổng”? Quả tình thật khó hiểu! Dù sao thì chúng tôi cũng chân thành cảm ơn các anh!
 
Lúc đó chúng tôi không cần suy nghĩ nhiều. Được tự do đã là quá phúc đức rồi!. Tôi đứng dậy vươn vai, hít thở không khí trong lành buổi sớm của miền núi cao. Mặt trời đã lên khỏi đỉnh đèo An Khê từ lúc nào. Những tia nắng ấm áp làm cho cả người khoan khoái dễ chịu hẳn. Bỗng thằng Minh reo lên, tay chỉ về phía chân đèo:
 
- Có xe kìa!
Tôi bảo nó:
- Nhìn kỹ xem xe gì!
 
Đã đón nhầm xe của xếp lớn một lần nên tôi quá tởn, không dám vội vàng xông ra như trước.
- Xe bốn bánh! – Thằng Minh nói và đi ra vệ đường. Bấy giờ, tôi cũng nhận ra đó là chiếc xe bốn bánh màu nước cơm, đang chạy ì ạch lên dốc.
 
Chiếc xe dừng lại, lơ xe giục tôi leo lên. Minh trả tiền rồi lên sau. Trên xe quang gánh đầy sàn. Hai băng ghế toàn đàn bà. Họ bảo tôi và thằng Minh ngồi vào trong. Bọn tôi từ chối, nói rằng qua hết đèo sẽ xuống. Tôi ghé đít vào chỗ băng ghế trống một chị vừa xích vào trong. Minh đu ngay cửa xe. Chiếc xe chạy chậm rề rề, nhưng cuối cùng cũng qua hết cái đèo khúc khủy. Khi còn cách trạm kiểm soát Phú Phong chừng 200m thằng Minh đập vào thùng xe bảo tài xế dừng lại. Chúng tôi xuống xe. Lòng mừng khấp khởi vì không gặp cảnh binh. Chắc họ đã rút hết từ lâu.
 
Xuống xe, tôi mới để ý, thằng Minh hoạt bát, nhanh nhẹn hẳn lên. Nó dẫn tôi đi ngược lên phía bắc, qua một cánh đồng ruộng, một xóm nhà, lại một quãng đồng nữa thì nhìn thấy dòng sông Côn. Từ đó chúng tôi cứ nương theo bờ sông mà đi băng ngang nhiều cánh đồng và nhiều bãi đất hoang. Dường như thằng Minh rất thông thạo vùng này. Nó chỉ con sông Côn cuồn cuộn nước, bảo tôi, bơi qua sông là về đến nhà chị nó. Có dám bơi không.? Tôi nhìn dòng sông, dù là đoạn trung du nó vẫn rộng và sâu gấp mấy lần con sông Thoa quê tôi. Nước sông đầy ăm ắp, chảy xiết. Tôi lắc đầu. Nó cười.
Xế chiều, chúng tôi đến một cây cầu bê tông khá rộng, lâu lâu mới có người qua lại. Hai đứa thoang thả bình tĩnh bước đi như những kẻ nhàn du. 
 
Chúng tôi đã về tới đồng bằng!
Đến lúc này thì thằng Minh tạm coi như đã đào tẩu thành công; còn tôi chỉ mới được nửa đường thiên lý. 
 
Minh dẫn tôi vào một khu chợ lồng. Tới một cái sạp chao vịt, nó kêu hai tô. Cả hai ngồi húp xì xụp. Tiếng là tô cháo vịt nhưng kỳ thực lỏng bỏng chỉ có nước và gạo, chẳng thấy miếng thịt nào. Ăn xong thằng Minh còn ngồi tán chuyện với bà chủ một lát. Tôi giục vài lần, nó mới trả tiền và đứng lên. Lúc ra tới đường cái nó bảo tôi, tới nhà rồi, nhưng cứ chờ đến tối hãy về, không việc gì phải hấp tấp. Nó nói có lý. Không ai trong xóm đó nhìn thấy chúng tôi mới là thượng sách.
 
Đến chín giờ đêm, hai đứa tôi về đến nhà chị nó, một căn nhà trong cái xóm làm chiếu gần thị trấn Đập Đá. Nó gõ của, chỉ nó cầm cái đèn ra xem là ai. Trông thấy nó mừng rỡ xuýt làm rớt cái đèn hột vịt. Chúng tôi vào nhà, nghỉ ngơi một lát rồi ra cái giếng bên hông nhà tắm rửa. Bôn ba suốt hai đêm hai ngày, bữa nay mới thật sự được thoải mái. Tắm xong, thằng Minh hỏi chị nó kiếm cho tôi một bộ đồ khác để thay. Cái áo cũ đã rách bươm. Cái quần toạc ống, hỏng phéc-mơ-tuya.
 
Nghỉ ngơi một lát bà chị thằng Minh dọn ra một nồi cháo gà bốc hơi nghi ngút để đãi chúng tôi. Anh chồng chị đi ngủ từ sớm, không ăn. Thằng Minh đớp ngon lành. Còn tôi hơi lo vì không biết làm cách nào để về Đức Phổ khi trong túi không có tiền, nên ăn cũng chả thấy ngon.
 
Sáng hôm sau, Minh bảo tôi ở lại Đập đá chơi ít ngày để nó dẫn đi tán gái Bình Định! Tôi cười như mếu. Cái thằng! Buồn thúi ruột, nó còn nghĩ chuyện gái gú! Tôi tỏ ý muốn ngày mai đi về nhưng không có tiền. Chị nó bảo vài hôm nữa chị có chuyến hàng đi Đà Nẵng, lúc đó hãy đi với chị.
 
Hai đêm liền, thằng Minh dẫn tôi đến nhà những cô gái mà nó quen biết. Mặc cho nó tán hưu tán vượn với các cô, tôi chỉ quan tâm công việc họ làm. Đó là lần đầu tiên tôi thấy người ta làm ra một chiếc chiếu hoa nó như thế nào. Dù ở Tư Nghĩa, Quảng Ngãi cũng có nghề dệt chiếu nhưng tôi chưa hề được trông thấy lúc thợ làm. Muốn làm ra một chiếc chiếu lác công phu không phải ít. Ngoài công đoạn làm sợi cói, nhuộm màu; còn phải biết đan kết chúng lại với nhau theo mẫu mã. Khi dệt cần phải có hai người phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau. Hễ một người đưa cái lược đẹt ra xa để cho những sợi dọc tạo thành hai hàng trên dưới, thì người kia phải nhanh tay phóng sợi ngang qua bằng một cái que dài và nhỏ, rồi thu que về. Lúc này người thợ chính mới kéo cái lược về phía họ, ép cho sợi cói ngang sát vào nhau. Cứ thế hết sợi này đến sợi khác tạo thành tấm chiếu hoa xinh đẹp. Tôi thấy các cô gái ở đây tay làm thoăn thoắt mà miệng vẫn đối đáp với thằng Minh nhưng chiếc chiếu không bị lỗi, thật đáng khâm phục tài nghệ thủ công của các cô vô cùng.
 
Ở lại Đập Đá đến sáng ngày thứ ba, thì tôi chào từ biệt thằng Minh, theo chị nó xuống ga Diêu Trì. Kể từ đó tôi và Minh không còn gặp lại nhau lần nào nữa. Đúng là bèo dạt mây trôi.




Đến ga Diêu Trì, chúng tôi ngồi đợi hơn một tiếng đồng đồ chuyến tràu chợ Sài Gòn – Đà Nẵng mới tới nơi. Chị Hai thằng Minh bảo tôi khuân một đống bao tải lớn chất vào toa tàu. Tôi không tiện hỏi nên chẳng biết trong bao chứa những thứ gì. Cứ im lặng làm theo lời bà chị Xong việc, hai chị em mới bước lên toa tàu. Trong toa hàng hóa chất ngổn ngang, chỉ có dăm ba người ngồi trên sàn, không có ghế. Toa này là toa chở hàng, những người ngôi đây toàn là chủ hàng hoa buôn bán lén lút. Tàu hú còi rời ga. Chạy được một lát thì có anh nhân viên soát vé từ đầu tàu đi lại. Tay anh ta cầm một cuốn sổ nhỏ và một cây viết. Vừa đến bên tôi, anh chưa kịp mở miệng hỏi vé thì chị thằng Minh đã nói nhỏ:
 
- Em họ tôi đấy xếp!
- Đi đâu?
- Nó về Đức Phổ. – Vừa nói chị vừa nhét vào tay anh ta một tờ giấy bạc. Anh kía mỉm cười chớt nhả:
- Tưởng ai chứ em của người đẹp thì vô tư! - Anh ta nói, rồi bước đi đến chỗ người khác.
 
Tàu dừng lại ở ga Tam Quan hơi lâu để tránh một đoàn tàu Thống Nhất chạy ngược chiều. Một vài cô bé bán trà đá, bánh tráng (bột) mì nước dừa, đặc sản địa phương chào khách í ới. Có một bà sồn sồn quảy gánh cơm lên toa bán cho mọi người. Một bên quang gánh là nồi cơm trắng còn đương bốc khói, bên kia là xoong thịt kho trứng sắc nâu, điểm thêm mấy trái ớt màu đỏ thơm lừng. Đã quá trưa, chị Hai thằng Minh mua một tô cơm để ăn. Chị cho tôi mười đồng, bảo có đói bụng thì mua ăn. Quả thật tôi cũng đói bụng lắm, nhưng nghĩ để tiền đó phòng thân, và cũng đã gần về đến nhà nên rán nhịn.
 
Tàu vào ga Đức Phổ khoảng ba giờ chiều. Tôi cảm ơn và chào tạm biệt bà chị tốt bụng, rồi lật đật bươc xuống sân ga. Đức Phổ là một nhà ga nhỏ nên không mấy người lên xuống. Chỉ có vài người đàn bà chở những can nước mắm từ Nha Trang về lục tục gánh gồng vào nhà ga. Tôi vì không có vé nên chẳng dám theo chân họ. Tôi đi dọc theo đường rầy, qua khỏi nhà ga có một lối đi nhỏ, rẽ phải về thị trấn. Xuống đến thị trấn, xem như đã an toàn về đến nhà. Bây giờ tôi mới cảm thấy bụng đói cồn cào. Ghé vào một quán phở tôi gọi một tô phở bò và vài điếu thuốc lá. Cái thói hư hút thuốc lá là do mấy thằng ‘đàn anh’ hồi học cấp Hai tập tành cho tôi. Lúc ở nhà tôi vẫn thường lấy thuốc bổi của mẹ tôi dùng để chà răng mỗi lúc ăn trầu, vấn hút. Vào quân đội vì không có tiền nên tôi bỏ. Không hiểu sao hôm nay tôi lại cảm thấy thèm thuốc nên mua để phì phà.
 
Trả tiền xong, tôi theo con đường tắc băng ngang Gò Hội đi về Phổ Minh. Lúc đi qua cánh đồng Tân Tự tôi gặp anh bạn thơ Mai Hoàng Dũng (tức nhà thơ Vũ Thụy Nhung, tác giả bài thơ Em Có Về Quảng Ngãi Với Anh Không được phổ nhạc, có nhiều ca sĩ hát.) Thấy tôi đang bước lang thang, Dũng ngạc nhiên hỏi:
 
- Uả, nghe nói anh đi bộ đội rồi mà?
Không muốn cho Dũng biết rõ sự tình, tôi đáp:
- Đơn vị cho về ăn Tết!
 
Nói xong, tôi vội vàng từ biệt Dũng để về cho kịp chuyến đò cuối ngày. Đến bến đò Du Quang cũng vừa đúng lúc hoàng hôn. Con đò đang cắm sào phía bên này sông, để đợi những người khách muộn. Sông Thoa nước duềnh lên lái láng. Những con sóng nhỏ lăn tăn vỗ vào mạn thuyền. Anh lái đò đang ngồi ngắm trời mây, có lẽ đã chờ khách khá lâu, cũng đang muốn về nhà, nên thấy tôi bước lên liền nhổ sào, đẩy thuyền lướt băng băng trên sông. Sang đến bờ bên kia, còn một ít tiền lẻ, tôi đưa cả cho anh lái rồi bước lên bờ.
 
Nhà chị Hai tôi ở sát bến đò Du Quang. Anh rể tôi là đảng viên, có chân trong Hội đồng nhân dân xã, vì thế tôi không muốn ghé vào. Nhà chị Ba tôi ở giữa thôn Du Quang, tôi cũng không ghé đến. Dù trời đã tối, và phải đi ngang một cái trảng lớn có rất nhiều mồ mả, tôi vẫn quyết định đi thẳng về nhà.
Tôi bước vào trong ngõ nhà mình. Đứng khựng lại một lúc. Trong sân một ngọn đèn hột vịt chong leo lắt. Mẹ tôi đang ngồi chăm chú xắt khoai. Mái tóc bạc của mẹ như trắng hơn dưới ánh đèn. Lưng mẹ đã còng. Rất nhiều cảm xúc dâng trào trong tôi. Tôi đứng lặng yên một hồi lâu mà mẹ không hề hay biết.
Tôi rón rén đi lại gần. Khi còn cách mấy bước tôi khẽ gọi:
 
- Mẹ...!
 
Mẹ tôi nghe gọi giật mình, ngước lên, quay sang nhìn tôi. Ngập ngừng một chú mẹ mới nhận ra tôi. Hai mẹ con ôm nhau cùng khóc. Vào nhà, tôi nói sơ lược tình hình cho mẹ biết. Em trai tôi hôm ấy đi biển ở Đà Nẵng gần Tết mà cũng vẫn chưa về. Mẹ quyết định ngay tức khắc dẫn tôi xuống nhà chị Ba tôi tá túc qua một đêm, rồi sáng mai cho tôi vào Nha Trang.
 
Nhà chị Ba tôi tuy ở giữa thôn nhưng mảnh vườn rất rộng, cách xa nhà hàng xóm xung quanh. Thấy mẹ dẫn tôi đến anh chị tôi đều có vẻ ngạc nhiên. Mẹ nói chuyện với anh chị tôi một lúc, dặn dò tôi ở lại, rồi ra về. Chị Ba tôi dọn giương măc màn cho tôi ngủ qua đêm.
 
2/8/2022